Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 203/2023/HS-ST

Ngày: 19-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Vân

Ông Trần Thanh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Thời Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 272/2023/TLST-HS ngày 27/11/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2023/QĐXXST-HS ngày 05/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng T. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 25 tháng 11 năm 1991. Nơi sinh: tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1953 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1956 (đã chết). Gia đình bị cáo có năm anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Có vợ tên: Ngô Thị Cẩm T2 sinh năm 1984 (đã ly hôn) và chưa có con.

Tiền án:

  • Ngày 16/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đến ngày 30/01/2019, T chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 24/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đến ngày 28/5/2022, T chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2023 và chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ

Bào chữa cho bị cáo theo quy định có Luật sư Nguyễn Đức Đ thuộc Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Đ.

(Bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Nội dung chính: Nguyễn Hoàng T là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp (ma túy đá). Vào ngày 20/7/2023, T đi đến khu vực ngã tư G, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, mua 01 gói ma túy đá, với giá 38.000.000 đồng của người tên H1 (chưa rõ lai lịch). Sau đó, T mang về nhà tại ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai phân thành 31 gói ma túy đá nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời, cụ thể: Ngày 21/7/2023, tại nơi ở trên, T đã 01 lần bán 01 gói ma túy đá (loại Methamphetamine, có khối lượng khoảng 0,4gam), với giá 400.000 đồng cho Trần Tuấn A (sinh năm 1992, cư trú tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai).
  2. Vào khoảng 18 giờ 29 phút ngày 22/7/2023, Tuấn A tiếp tục điện thoại qua cho T để đặt mua 01 gói ma túy đá, với giá 1.300.000 đồng, Thông đồng ý bán và hẹn đến nhà để mua bán ma túy. Đến 19 giờ cùng ngày, Tuấn A đến gặp T để mua bán ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang.

  3. Vật chứng thu giữ của T gồm: 30 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 02 cân tiểu ly; 02 kéo kim loại; 16 bịch nylon bên trong không chứa gì; 01 điện thoại di động hiệu S có số Imei 1: 353748822674617, số Imei 2: 354097532674619, kèm số thuê bao 1: 0362.131.541, số thuê bao 2: 0584.717.257. Đồng thời, thu giữ của Trần Tuấn A 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số imei: 355686071088410, kèm số thuê bao 0362.195.264 và số tiền 1.300.000 đồng.
  4. Giám định, kết luận giám định: Tại Kết luận giám định số 1574/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 75,5191gam, loại Methamphetamine.
  5. Truy tố: Cáo trạng số 260/CT-VKS-P1 ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  6. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T cho rằng tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép buộc, không bị ép cung hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện.
  7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
    1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

    1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm vào tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g và h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    3. Điều luật áp dụng và đề xuất mức hình phạt:
    4. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Bộ luật Hình sự.

      Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) năm tù.

    5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
    6. - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ tang vật vụ án không có giá trị sử dụng.

    7. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T tại phiên tòa:
  2. Thứ nhất, đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về phần tội danh đối với bị cáo, do đó Luật sư không có ý kiến tranh luận gì thêm về phần này.

    Thứ hai, về tình tiết giảm nhẹ: Về tình tiết giảm nhẹ tại điểm s mà Viện kiểm sát đã xem xét áp dụng, phía luật sư đồng ý và không có ý kiến gì thêm.

    Thứ ba, về hoàn cảnh gia đình của bị cáo: Bản thân bị cáo trình độ học vấn thấp 9/12, cuộc sống khó khăn, có thời gian tham gia quân đội, trên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp Luật Tố tụng hình sự, văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án.

2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ như biên bản khám xét, biên bản thu nhận vật chứng, kết luận giám định vật chứng, cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, hành vi của bị cáo trong vụ án này được xem xét đánh giá toàn diện trong mối quan hệ với các chứng cứ khác để xác định đúng bản chất của vụ án, đúng với hành vi của bị cáo thực hiện mà kết luận điều tra cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô tả.

2.2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Vào ngày 21/7/2023, tại nhà thuộc ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hoàng T đã 01 lần bán 01 gói ma túy (loại Methamphetamine có khối lượng khoảng 0,4gam), với giá 400.000 đồng cho Trần Tuấn A (sinh năm 1992, cư trú tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Vào lúc 19 giờ ngày 22/7/2023, tại địa điểm trên, khi bị cáo T gặp Tuấn A để chuẩn bị bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine, với giá 1.300.000 đồng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

2.3. Đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân của tội phạm khác. Do vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh cho cộng đồng. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là một loại chất cấm lưu hành và do Nhà nước độc quyền quản lý, nhưng bị cáo đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của cộng đồng, tác động rất xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng T, phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy tổng số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định (số 1574/KL- KTHS ngày 28/7/2023); 02 cân tiểu ly; 02 kéo kim loại; 16 bịch nylon bên trong không chứa gì.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S có số imei 1: 353748822674617, số imei 2: 354097532674619, kèm số thuê bao 1: 0362.131.541, số thuê bao 2: 0584.717.257 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
  • Buộc T giao nộp số tiền 400.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên được ghi nhận.

[7] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[8] Vấn đề khác: Đối với hành vi của Trần Tuấn A có dấu hiệu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định tách hành vi, tài liệu và vật chứng (01 điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei: 355686071088410, kèm số thuê bao 0362.195.264 và số tiền 1.300.000 đồng thu giữ trên) chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với đối tượng tên H1 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hoàng T, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  2. Điều luật áp dụng và quyết định hình phạt:
  3. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

    2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2023.

  4. Về xử lý vật chứng:
  5. Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong (số 1574/KL- KTHS ngày 28/7/2023); 02 cân tiểu ly (điện tử); 02 kéo kim loại; 16 bịch nylon bên trong không chứa gì (kích thước khoảng 1,5x4,5cm).
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động có ghi chữ Samsung Galaxy S22 Ultra, màu đen có số imei 1: 353748822674617, số imei 2: 354097532674619, kèm 2 sim:
    • Tình trạng vật chứng: Gói niêm phong còn nguyên niêm phong, hai cân tiểu ly, hai kéo đã qua sử dụng, cũ. Điện thoại di động đã qua sử dụng, cũ, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại.

    • Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T giao nộp số tiền 400.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
    • Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2023 theo Phiếu nhập kho NK24/034 ngày 21/11/2023).

  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
  7. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (02);
  • - Người bào chữa; (1)
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra-CA tỉnh ĐN (PC04);
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - CA tỉnh Đồng Nai (PC01);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai (B5);
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Đồng Nai (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1)
  • - Phòng KTNV và THA tỉnh ĐN (2);
  • - Lưu (4). (TP.ĐTKL)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 203/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 203/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 21/7/2023, tại nhà thuộc ấp Đồn Điền 2, xã Túc Trưng, huyện Định Q, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hoàng Th đã 01 lần bán 01 gói ma túy (loại Methamphetamine có khối lượng khoảng 0,4gam), với giá 400.000 đồng cho Trần Tuấn A (sinh năm 1992, cư trú tại ấp Thọ Lâm 1, xã Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai). Vào lúc 19 giờ ngày 22/7/2023, tại địa điểm trên, khi bị cáo Th gặp Tuấn A để chuẩn bị bán 01 gói ma túy loại Methamphetamine, với giá 1.300.000 đồng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Q phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger