Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2029/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi;
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 2996/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1701/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2436/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm: 1983 – (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Địa chỉ thường trú: 34I Đường K, khu phố B, phường A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Hoàng Văn N, sinh năm: 1979 – (vắng mặt)
  4. Địa chỉ thường trú: Xóm 1, thôn Q, xã L, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình;

    Nơi cư trú: 20 Đường N, khu phố H, phường A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nội dung nguyên đơn khởi kiện: Bà H và ông Hoàng Văn N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn ngày 18/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Bình An, Quận 2, nay là thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng cư trú tại địa chỉ 83/12 Đường số 6, phường An Khánh, quận 2, nay là thành phố Thủ Đức. Đời sống hôn nhân giữa hai bên không hạnh phúc như mong đợi, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính là ông Hoàng Văn N quá gia trưởng, độc đoán, thường xuyên đánh, đập, gây thương tích cho bà H và chửi bới vợ con, không tôn trọng và thường xuyên xúc phạm danh dự và nhân phẩm của bà H. Ông N không có trách nhiệm với gia đình, không chia sẻ tiền với bà H để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Sống chung một nhà nhưng không bên nào quan tâm chia sẻ nhau trong cuộc sống, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà H xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn nghiêm trọng, ông N thường xuyên đe dọa giết chết bà H và con làm cho bà H lo âu, bất an khi sống chung với ông N, cụ thể vào năm 2016 ông N đã hành hung, đánh và bóp cổ bà H bất tỉnh phải đưa đến bệnh viện cấp cứu. Từ đó bà H luôn có nổi lo sợ về mặt tâm lý khi sống chung với ông Hoàng Văn N. Do vậy, bà H đã chủ động sống ly thân nhưng vẫn ở chung nhà, đến năm 2019 hai bên mới thật sự sống ly thân cho đến nay. Bà H xác định đời sống hôn nhân với ông N không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đã nhiều lần nộp đơn đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng ông N cố tình gây khó khăn kéo dài. Do vậy, bà H tha thiết yêu cầu Tòa án phải giải quyết ly hôn với ông Hoàng Văn N để ổn định cuộc sống về sau. Giữa bà Nguyễn Thị Lệ H và ông Hoàng Văn N có một người con chung tên Hoàng Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014, bà H yêu cầu sau khi ly hôn được quyền nuôi dưỡng, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung bà Nguyễn Thị Lệ H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, giữa hai bên không có nợ chung.
  2. Bị đơn ông Hoàng Văn N không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt trong các buổi làm việc và trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn ông Hoàng Văn N tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa theo đúng quy định.
  3. Tại phiên tòa phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai: Bị đơn ông Hoàng Văn N vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên và có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.

3

  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Hoàng Văn N vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đề nghị Tòa án áp dụng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hoàng Văn N là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác nhận ông Hoàng Văn N đang thực tế cư trú tại địa chỉ: 20 Đường số 5, khu phố 2, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy, tại thời điểm Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ kiện, bị đơn ông Hoàng Văn N đang cư trú trên địa bàn thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Hoàng Văn N vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường Bình An, Quận 2 (nay là phường An Khánh, thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 18/6/2013, có cơ sở xác định giữa bà Nguyễn Thị Lệ H và ông Hoàng Văn N có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào sự thừa nhận và không phản đối của các bên đương sự, áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có có sở xác định về

4

nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính giữa hai bên là do có nhiều quan điểm bất đồng, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính là ông Hoàng Văn N có tính gia trưởng, độc đoán, không tôn trọng bà H. Ông Hoàng Văn N không có trách nhiệm với gia đình, không chia sẻ tiền bạc (tài chính) với bà H để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Sống chung một nhà nhưng không bên nào quan tâm chia sẻ nhau trong cuộc sống, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà H luôn lo âu và bất an khi sống chung nhà, vì ông N thường xuyên đánh và đe dọa giết bà H. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy, từ khi nhận được thông báo bà H nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng ông Hoàng Văn N vẫn không có thiện chí hòa giải để các bên đoàn tụ, mặc cho bà H khởi kiện ly hôn đơn phương và không quan tâm kết quả Tòa án giải quyết như thế nào. Xét thấy, hai bên không còn tình cảm, không yêu thương, chia sẻ làm cho đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được. Tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Lệ H và ông Hoàng Văn N thuộc trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    1. Về con chung: Căn cứ vào bản sao giấy khai sinh số 142 do Ủy ban nhân dân phường Bình An, Quận 2 (nay là phường An Khánh, thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 28/8/2014, Hội đồng xét xử có sơ sở xác định bà Nguyễn Thị Lệ H và ông Hoàng Văn N có người con chung tên Hoàng Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014. Ông Hoàng Văn N đồng hợp tác, không đến Tòa án để tiến hành các thủ tục cần thiết giải quyết ly hôn với bà H, không có văn bản thế hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có ý kiến về việc nuôi con, cũng như tranh chấp nuôi con. Căn cứ vào sự thừa nhận và không phản đối giữa các bên đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu được nuôi con của bà H là nguyên vọng chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, nên có cơ sở chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông Hoàng Văn N cấp dưỡng nuôi con.
    2. Về tài sản chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về nghĩa vụ chung (nợ chung): Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H phải nộp theo quy định của pháp luật.

5

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 và Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ H được ly hôn với ông Hoàng Văn N.
    • Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 30/7/2014 cho bà Nguyễn Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

    Không bên nào có quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc giáo dục con chung. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    • Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Lệ H về việc không yêu cầu ông Hoàng Văn N cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Lệ H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lệ H tự xác định không có.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị Lệ H phải nộp theo quy định, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Lệ H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001561 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Lệ H đã nộp đủ án phí.

6

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Tp.Thủ Đức;
  • - CCTHADS Tp.Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký và đóng dấu)

Cao Văn Thiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2029/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2029/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hai bên mâu thuẫn, người chồng đánh và hành hung người vợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger