Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

Bản án số: ..../2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-12-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Hùng và bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 189/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Thị C, sinh năm 1987; nơi cư trú: Xóm B, xã V, tỉnh Nghệ An (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm B, xã V, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thị C trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Công T đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ) vào ngày 17/08/2006.

Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay.

Nguyên nhân: Vợ chồng không tin tưởng nhau và không có tiếng nói chung, hai bên bỏ mặc không có trách nhiệm với nhau dẫn đến chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng đã nhiều năm. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Xuân T1, sinh ngày 10/10/2010. Hiện nay anh T đang nuôi dưỡng con chung, Con khỏe mạnh.

Nếu ly hôn Chị có nguyện vọng giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung và Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai của bị đơn anh Nguyễn Công T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Lý Thị C đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ) vào ngày 17/08/2006.

Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay.

Nguyên nhân: Vợ chồng có nhiều khúc mắc, xúc phạm nhau nên chị C đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ năm 2017 đến nay. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được.

Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị C xin ly hôn Anh cũng đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Xuân T1, sinh ngày 10/10/2010. Hiện nay Anh đang nuôi dưỡng con chung, Con khỏe mạnh.

Nếu ly hôn Anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con và yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Công T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt phiên họp và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị C và không có yêu cầu phản tố.

Bị đơn anh Nguyễn Công T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 và kết quả phiên họp mà vẫn vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa nhưng nguyên đơn chị C và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2] Về Hôn nhân: Chị Lý Thị C và anh Nguyễn Công T được Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40/2006 ngày 17 tháng 08 năm 2006, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xẩy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân: Vợ chồng không tin tưởng nhau và không có tiếng nói chung, hai bên bỏ mặc không có trách nhiệm với nhau dẫn đến chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng đã nhiều năm.

Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã vận động thuyết phục chị C rút đơn về đoàn tụ gia đình nhưng chị C không chấp nhận mà yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn.

Xét thấy chị C và anh T hoàn toàn tự nguyện ly hôn và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lý Thị C và anh Nguyễn Công T.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Xuân T1, sinh ngày 10/10/2010. Hiện nay anh T đang nuôi dưỡng con chung, Con khỏe mạnh.

Nếu ly hôn chị C có nguyện vọng giao anh T nuôi dưỡng con chung, anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh T đang nuôi dưỡng con chung, cháu T1 có nguyện vọng được ở với anh T, chị C và anh T hoàn toàn tự nguyện thống nhất giao con chung cho anh T nuôi dưỡng nên chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng và anh T đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chị C và anh T hoàn toàn tự nguyện thống nhất “chị C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng” nên chấp nhận.

[5] Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị C, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Lý Thị C phải chịu 150.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55; Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 238; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về Hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lý Thị C và anh Nguyễn Công T.

2. Về nuôi con:

Giao cháu Nguyễn Thị Xuân T1, sinh ngày 10/10/2010 cho anh Nguyễn Công T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng cho con: Chị Lý Thị C tự nguyện đóng góp nuôi con với anh Nguyễn Công T số tiền là 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đồng một tháng), kể từ tháng 01 năm 2026 cho cho đến khi cháu Nguyễn Thị Xuân T1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh T, chị C có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con.

3. Án phí: Chị Lý Thị C tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng ) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng ) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001971 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Lý Thị C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cùng cấp;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Xuân Thọ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hà

Nguyễn Bá Hùng

Phan Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số ..../2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: ..../2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân gia đình CHIỀU - THUÝ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger