Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 06 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn; bà Lê Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/03/2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/05/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Phạm Duy S, sinh ngày 11/3/1985; Có mặt.

Hộ khẩu thường trú: số F ngõ A đường Ỷ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Trú tại: số B đường C phường H, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: chị Trần Thị T, sinh ngày 01/02/1986; Có mặt.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: số F ngõ A đường Ỷ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn ly hôn và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Phạm Duy S trình bày: tôi và chị Trần Thị T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/04/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, lối sống không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay anh S xác định không còn tình cảm chị T, xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn với nhau được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh S được ly hôn chị T.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường. Từ khi vợ chồng ly thân con chung ở với tôi tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thoả thuận khác.

- Về cấp dưỡng: Anh Phạm Duy S không đề nghị chị Trần Thị T cấp dưỡng

-Về tài sản chung, nợ chung: chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Chúng tôi sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

2. Bị đơn là chị Trần Thị T trình bày: Chị xác nhận mâu thuẫn anh S đưa ra là đúng. Đến năm 2024, vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống, lối sống không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, không ngồi nói chuyện được với nhau, vợ chồng ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc, không đạt được mục đích hôn nhân. Cuộc sống hôn nhân của hai anh chị diễn ra không có sự thấu hiểu, chia sẻ lẫn nhau. Đến đầu năm 2024 anh S đã chuyển ra ngoài sống, vợ chồng sống cuộc sống ly thân. Mặc dù mâu thuẫn trầm trọng nhưng hiện tại các con còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của cả bố và mẹ nên chị Trần Thị T không đồng ý với đề nghị xin ly hôn của anh Phạm Duy S.

- Về con chung: 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường. Từ khi vợ chồng ly thân con chung ở với anh S. Trường hợp, Tòa án giải quyết ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thỏa thuận thay đổi khác.

- Về cấp dưỡng: Chị T không đề nghị anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung, nợ chung: chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Chúng tôi sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

3. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Phạm Duy K và cháu Phạm Nguyên K1 đều có nguyện vọng được ở với bố đẻ là anh Phạm Duy S, sau khi bố mẹ ly hôn.

4. Tại phiên tòa:

4.1. Anh Phạm Duy S vẫn giữ nguyên đề nghị xin được giải quyết ly hôn, do tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung: Do anh đã một mình nuôi con chung 08 năm nay trong thành phố Hồ Chí Minh và các con anh đang có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường nên anh đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung; Hiện anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Tài sản chung, công nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.2. Chị Trần Thị T không đồng ý ly hôn, mong hai vợ chồng hàn gắn để cùng nhau nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Về con chung: Trong trường hợp toà án giải quyết ly hôn, chị T nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thỏa thuận thay đổi khác. Chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, công nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Thư ký đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Duy S: xử anh Phạm Duy S được ly hôn với chị Trần Thị T; Do cả 02 con chung đều đang ở với bố kể từ khi anh S, chị T ly thân và cả 02 con chung đều có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy, giao 02 con chung là cháu Phạm Duy K và cháu Phạm Nguyên K1 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.

+ Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung cho chị T đối với anh S. Chị T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, không ai được quyền ngăn cản.

+ Tài sản chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Công nợ chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Đề nghị anh S phải chịu án phí dân sự về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/4/2011, nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S thì thấy: Anh S cho rằng ly thân đã lâu, mâu thuẫn vợ chồng đã quá mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, kiên quyết đề nghị được ly hôn. Chị Trần Thị T cho biết mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhưng hiện tại các con còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của cả bố và mẹ nên chị Trần Thị T không đồng ý với đề nghị xin ly hôn của anh Phạm Duy S. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh S và chị T đã ly thân lâu, trong thời gian ly thân, vợ chồng không có biện pháp cải thiện khắc phục mâu thuẫn vợ chồng để đoàn tụ. Như vậy, có căn cứ xác định anh S và chị T không còn tình cảm vợ chồng nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S đối với chị Trần Thị T.

[2] Về con chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường.

Khi ly hôn anh Phạm Duy S cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung kể từ khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác về nuôi con; anh S không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Chị Trần Thị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thỏa thuận thay đổi khác. Tuy nhiên, từ khi vợ chồng anh chị ly thân thì cả 02 con chung đều đang ở với bố và có nguyện vọng ở với bố là anh Phạm Duy S. Hội đồng xét xử nhận thấy việc nuôi con chung vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bố mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất; anh S và chị T đều có thu nhập ổn định nhưng anh S có điều kiện nuôi con chung tốt hơn do 02 con chung đã ở với bố, để tránh sự xáo trộn về học tập, tâm sinh lý nên giao 02 con chung cho anh Phạm Duy S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Trần Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[3] Về cấp dưỡng: Anh Phạm Duy S không đề nghị cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét, giải quyết.

[5] Về công nợ chung: anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Anh Phạm Duy S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Duy S đối với chị Trần Thị T.

Xử cho anh Phạm Duy S được ly hôn chị Trần Thị T.

2. Về con chung: Xác nhận anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014, hiện các con phát triển khỏe mạnh bình thường.

Giao cho anh Phạm Duy S được quyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Phạm Duy K, sinh ngày 01/05/2012 và cháu Phạm Nguyên K1, sinh ngày 18/09/2014 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thoả thuận thay đổi khác.

Chị Trần Thị T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Thị T đến khi có sự thay đổi khác.

4. Về tài sản chung: Anh S và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về công nợ chung: Anh S và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6. Về án phí: Anh Phạm Duy S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0044892 ngày 04/03/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

7. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Duy S và chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. Hội đồng xét xử

Thẩm phán chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: /2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Duy S ly hôn Trần Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger