|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2025/DS-ST Ngày 23/6/2025 V/v: Tranh chấp đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thúy Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai, bà Quang Thị Ngà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 135/2025/DS - ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản (tiền cho vay)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST–DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 47 ngày 17/6/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Hà Quý H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội.
- - Bị đơn: Ông Phạm Đức Â, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Vương Thị Hà A, Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, TP Hà Nội.
- + Bà Phạm Thị Thúy H1, Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, TP Hà Nội.
Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày đề ngày 06 tháng 5 năm 2025 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn ông Hà Quý H trình bày:
Về quan hệ: Ông Phạm Đức  cùng xóm với ông Hà Quý H và là anh em cùng làm rể một cửa với anh trai ruột ông H, thì ông H và ông  có qua lại quen biết và thân thích với nhau.
Vào ngày 11/9/2011, ông Phạm Đức  và bà Phạm Thị Thúy H1 thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, TP Hà Nội có hỏi vay ông H 200.000.000 đồng để dùng vào việc gia đình. Ông H vì nể nang có cầm cho ông A vay với số tiền là 2.000.000 đồng và có viết Giấy biên nhận, cả hai vợ chồng ông  cùng ký. Sau đó khoảng 2 – 3 tháng, ông H có phát hiện ông  vay tiền của ông H để đem đi cho vay lãi ngày (lãi nặng), lúc đó ông H không đồng ý và đến đòi lại số tiền trên thì ông  nói là: "Tiền em cho vay giờ không đòi được, anh cứ để thư thả em trả". 5 – 6 năm sau ông H thấy ông  vẫn không trả. Ông H có đến đòi nhưng ông  cố tình trốn tránh, sau đó ông H có gặp và đòi thì ông  bảo giờ chưa có. Ông H bảo với ông  là: "Chú mà không trả anh là anh sang đơn vị của chú để anh báo cáo đấy". Sau mấy hôm, ông H có sang đơn vị ông  đóng quân báo cáo với chỉ huy đơn vị là ông  có vay tiền của ông H mà không trả. Hôm đấy, chỉ huy có gọi ông  lên để giải quyết thì ông  có hứa với ông H là mỗi tháng ông  trả dần là 5.000.000 đồng. Ông H đồng ý và không làm đơn từ gì cả. Sau khi về nhà thì ông  có gọi ông H sang để trả theo lời hứa trước chỉ huy đơn vị, nhưng ông  chỉ trả ông H có 3.000.000 đồng và bảo ông H ký giấy nhận tiền. Lúc này tôi thấy ông  không chấp hành lời hứa nên ông H không nhận và bảo với ông  không giữ lời hứa thì tôi sẽ làm đơn sang đơn vị đấy. Hai hôm sau, ông  có đến nhà anh trai ông H là Hà Văn K (Phó chủ tịch UBND huyện Đ lúc bấy giờ) để bảo với ông H là đừng làm đơn đưa sang đơn vị của ông  và ông H nghe theo lời của anh K, không làm đơn sang đơn vị của ông A đóng quân nữa và để cho ông  tự ý thu xếp trả. Khoảng 3 năm sau ông  xin ra quân để lĩnh một cục khoảng sáu, bảy trăm triệu. Ông H thấy ông  làm nhà và mua xe thì có đến đòi, ông  vùng vằng lời qua tiếng lại, vu cho ông H là đập đồ đạc nhà ông  và túm cổ đánh ông H. Trong khi đó ông H không làm gì chỉ đến để đòi tiền thôi. Và từ đấy đến nay vẫn cố tình muốn chiếm đoạt số tiền trên của ômng H vì có lần ông H có nói với ông  là: "Chú trả anh 100.000.000 đồng. Anh cho chú 50.000.000 đồng, còn 50.000.000 bao giờ chú có thì chú trả anh, anh không đòi". Nhưng ông  vẫn cố tình muốn chiếm đoạt số tiền trên của ông H.
Nay ông Hà Quý H làm đơn đề nghị Toà án yêu cầu ông Phạm Đức  trả lại số tiền đã vay theo đúng quy định của pháp luật và số tiền lãi từ ngày mượn đến nay bằng lãi suất theo quy định của pháp luật của nhà nước.
2. Bị đơn ông Phạm Đức  trình bày: Ngày 11/9/2011, giữa ông và ông H có kí giấy cam kết vay tiền là 200 triệu. Tuy nhiên, trước thời điểm này 17 tháng ông  có vay của ông H 400 triệu đồng với lãi suất cao (2.000 đồng/1 triệu/1 ngày). Ông  đã trả được 200 triệu nợ gốc và 408 triệu nợ lãi. Số tiền gốc còn lại giữa hai bên viết giấy cam kết vay tiền. Trong giấy không có thoả thuận về lãi, không có thoả thuận về ngày trả nợ. Mỗi lần ông  trả nợ lãi hay nợ gốc ông  đều ký vào 1 cuốn sổ tay sau đó đưa tôi ký xác nhận. Cuốn sổ này ông H giữ, đề nghị Toà án yêu cầu ông H xuất trình. Việc ông  giao kết vay tiền với ông H là giao dịch của cá nhân ông  với cá nhân ông H, riêng chữ ký của vợ ông  – Phạm Thị Thúy H1 ở trong Giấy vay tiền ông  sẽ xác minh lại từ vợ.
Năm 2017, Ông H có đến cơ quan – nơi làm việc của ông  để đòi tiền tôi. Đơn vị của ông  đã dàn xếp mỗi tháng trả 2 triệu trừ vào gốc và không tính lãi cho ông  nữa vì hoàn cảnh của ông  có khó khăn, ông  đã trả được 2 tháng, tổng là 4 triệu và có yêu cầu ký sổ, nhưng ông H không đồng ý và từ những tháng sau ông  không trả cho ông H nữa.
Ông H có mua 3 cân nấm Linh chi của ông Â, tổng trị giá 9 triệu và ông cũng chưa trả cho ông  số tiền đó.
Một thời gian sau ông H đến đòi tiền gốc và lãi còn lại. Nhưng ông  không có khả năng chi trả tiền lãi, nên ông H đòi tôi trả 200 triệu tiền gốc còn lại. Ông  có xin ông H trả 100 triệu, còn 100 triệu còn lại cho ông xin, nhưng ông H không nghe.
Bây giờ ông  khó khăn, cũng chưa trả được và ông  cũng không thoả thuận ngày trả nợ với ông H. Bao giờ ông A có ông mới trả được.
Hiện tại ông  đang gặp khó khăn, các con vẫn còn đang đi học, vợ thì ốm, ông  có mong muốn khi nào có tiền sẽ trả nợ cho ông H.
Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không có ý kiến sửa đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu phản tố.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của các đương sự tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.
- Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cứ Khoản 1 Điều 227 xét xử vắng mặt đương sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Toà án tuyên:
- Yêu cầu tiền gốc của Nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận, yêu cầu tiền lãi không được xem xét do các bên không thỏa thuận trong Giấy cam kết vay tiền.
- Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Hà Quý H yêu cầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản (tiền). Đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hà Quý H cư trú tại địa bàn huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tham gia tố tụng: ông Hà Quý H khởi kiện đối với ông Phạm Đức  yêu cầu ông  trả nợ vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do vậy, căn cứ điều 68 Khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự, ông  bị Nguyên đơn khởi kiện nên tham gia tố tụng với tư cách bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về luật nội dung áp dụng giải quyết vụ án: Văn bản nhận nợ xác lập vào thời điểm Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực, song xác định yêu cầu đòi tài sản phù hợp với Bộ luật dân sự 2015 nên áp dụng điều 688 và 166 Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết.
Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung:
- Xét yêu cầu của Nguyên đơn: Ông Hà Quý H yêu cầu Tòa án giải quyết việc "Tranh chấp đòi tài sản” đối với ông Phạm Đức Â. Căn cứ để ông H yêu cầu là Giấy cam kết vay tiền có chữ ký của ông H, ông  và bà H1. Toàn văn Giấy cam kết vay tiền ngày 11/9/2011 như sau:
“Tên tôi là: Phạm Đức A. Sinh ngày 09/9/1976.
Nơi ĐKHKTT: Đ - Đ - Đ - Hà Nội"
Số CMTND: 0129973747. Cấp ngày 22/8/2007. Nơi cấp: C
Điện thoại: 0985.541.xxx
Hôm nay đúng: Ngày 11 tháng 9 năm 2011
Tôi có vay của ông: Hà Quý H
Quê quán: Đ - Đ - Đ - Hà Nội
Với số tiền là 200.000.000 đồng (viết bằng chữ: Hai trăm triệu đồng chẵn"./
Tôi vay số tiền trên (để dùng vào việc gia đình) nếu tới ngày hẹn trả số tiền trên mà tôi không trả được thì gia đình tôi phải có trách nhiệm trả lại anh ............ đầy đủ số tiền trên.
Tôi xin hẹn đến đúng ngày ... tháng ... năm 20... tôi sẽ hoàn trả số tiền trên cho ông (bà): ..................... thì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.
Tôi xin cam đoan là tôi có vay số tiền trên của ông (bà): Hà Quý H
Người vay tiền (ký, ghi rõ họ tên); Người cho vay (ký, ghi rõ họ tên)”.
Xét Giấy cam kết vay tiền ngày 11/9/2011 thấy: Ông Phạm Đức  đã viết và vợ chồng ông  đã ký kết Giấy cam kết vay tiền ông H số tiền là 200.000.000 đồng, việc nhận nợ là trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, ông  có đủ năng lực hành vi dân sự, được lập thành văn bản, nội dung Giấy cam kết vay tiền không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, xác định Giấy cam kết vay tiền ngày 11/9/2011 là hợp pháp.
Bị đơn ông Phạm Đức  xác nhận có vay khoản tiền theo như Giấy cam kết vay nợ ngày 11/9/2011 và không có đơn yêu cầu phản tố. Tại Tòa án, ông  thừa nhận việc vay tiền và xác nhận khoản nợ với ông H và xin khi nào có tiền ông Phạm Đức  sẽ trả nợ cho ông H. Do vậy, ông H đòi tiền ông  là có căn cứ theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015.
Ông H yêu cầu ông  trả nợ gốc là có căn cứ được chấp nhận.
Buộc ông Phạm Đức  phải trả ông Hà Quý H tổng số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng.
Về yêu cầu lãi: Tại Giấy cam kết vay tiền ngày 11/9/2011, các bên không thỏa thuận về lãi, các bên không thỏa thuận thời điểm trả. Do vậy, yêu cầu về lãi của ông Hà Quý H không được xem xét chấp nhận.
Phương thức trả nợ: Ông Phạm Đức  có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hà Quý H 2.000.000 (3.000.000) đồng/tháng cho đến khi trả hết toàn bộ số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng.
[3]Về án phí: Yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận một phần nên theo quy định tại Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 10.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả nguyên đơn ông Hà Quý H 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0072137 ngày 08/05/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
[4]Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1, Điểm a, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
- - Căn cứ Điều 166, 688 của Bộ luật dân sự 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của Nguyên đơn ông Hà Quý H.
Buộc Bị đơn ông Phạm Đức  phải trả ông Hà Quý H tổng số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng. Ông Phạm Đức A có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hà Quý H 2.000.000 (3.000.000) đồng/tháng cho đến khi trả hết toàn bộ số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị đơn ông Phạm Đức  phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 10.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả nguyên đơn ông Hà Quý H 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0072137 ngày 08/05/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 của Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Triệu Thuý Hà |
6
Bản án số /2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: /2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
