|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Bản án số: /2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết H, sinh năm 1967. HKTT: Thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. HKTT: Thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Hàn Quốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Viết H trình bày: Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị L có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau nhưng không đăng ký kết hôn từ năm 1990. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, năm 2005 bà L đi lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không còn liên lạc với nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Nay ông H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, ông H đề nghị được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Hiện nay, bà L đang ở Hàn Quốc, bà L thường xuyên liên lạc với các con tuy nhiên ông H hỏi các con và hỏi bà L về địa chỉ cụ thể ở Hàn Quốc nhưng đều không cung cấp địa chỉ cụ thể.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông H, bà L có 04 con chung là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992, chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993, chị Nguyễn Thị G, sinh năm 2000; chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2002.
Các con anh H đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H đề nghị không hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của bà L nhiều lần, nhưng bà L không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với chị Nguyễn Thị H1 là con đẻ của bà L, chị H1 trình bày: Chị là con đẻ của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. HKTT: Thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang lao động tại: Hàn Quốc. Theo chị được biết, qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, bố chị là ông Nguyễn Viết H và mẹ chị là bà Nguyễn Thị L có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau nhưng không đăng ký kết hôn từ năm 1990. Năm 2005 mẹ chị đi lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay. Chị và mẹ tôi vẫn thường xuyên liên lạc, nói chuyện với nhau qua điện thoại, chị không biết địa chỉ cụ thể của mẹ chị ở Hàn Quốc, chị có hỏi nhưng bà không nói. Nay liên quan đến việc bố chị xin ly hôn với mẹ chị thì chị H1 có gọi điện báo với mẹ chị biết, bà L có nhờ chị nhắn quan điểm như sau “Bà L và ông H chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, nay ông H xin ly hôn thì bà L cũng đồng ý. Ông H và bà L có 04 con chung là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993; Nguyễn Thị G, sinh năm 2000; Nguyễn Thị T, sinh năm 2002. Về tài sản chung, công nợ: Không có; bà L hiện rất bận công việc nên sẽ không gửi giấy tờ về, bà L đề nghị xét xử vắng mặt và có ủy quyền cho chị nhận thay các văn bản, giấy tờ của Tòa án gửi cho bà L”
Nay liên quan đến việc ly hôn giữa bố chị và mẹ chị thì chị sẽ nhận thay cho mẹ chị các văn bản tố tụng, bản án và chị cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho mẹ chị ngay trong ngày nhận được.
Tại phiên toà nguyên đơn là ông H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị L. Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Ông H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, ông Nguyễn Viết H xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Viết H trình bày bị đơn là bà Nguyễn Thị L có hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Hàn Quốc. Căn cứ Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị L trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của bà L nhưng đều không cung cấp mặc dù bà L thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Viết H kết hôn với bà Nguyễn Thị L có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau nhưng không đăng ký kết hôn từ năm 1990. Năm 2005 bà L đi lao động tại Hàn Quốc dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không còn liên lạc với nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy, ông H và bà L có đủ điều kiện kết hôn, có tổ chức đám cưới, tuy nhiên không đăng ký kết hôn và chung sống như vợ chồng từ năm 1990, nội dung này đã được chủ tịch UBND xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh xác nhận là đúng, do đó đối với yêu cầu xin ly hôn của ông H, căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông H và bà L.
[2.2]. Về con chung: Ông H, bà L có 04 con chung là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992, chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993, chị Nguyễn Thị G, sinh năm 2000; chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2002. Hiện các con chung đã trưởng thành, việc ở với ai họ tự quyết định.
Về tài sản chung, công nợ chung: Ông H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Viết H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị L.
- Về con chung: Ông H và bà L có 04 con chung là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992, chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993, chị Nguyễn Thị G, sinh năm 2000; chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2002. Hiện các con chung đã trưởng thành, việc ở với ai họ tự quyết định.
Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Viết H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ông H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000236 ngày 01/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Minh Phương – Nguyễn Văn Kỹ |
Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số /2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Viết H và bà Nguyễn Thị L
