TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2023/DS-PT
Ngày: 28 - 11 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: | |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thành Tâm |
Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh Ông Nguyễn Văn Đức |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. | |
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. | |
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 271/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 330/2023/QĐ-PT ngày 13/11/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cù Khắc T sinh năm: 1954; địa chỉ: Tổ A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn T1 sinh năm: 1974; địa chỉ: Số C N, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Phạm Thị Thu H sinh năm 1975; địa chỉ: Số E N, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Cù Khắc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn ông Cù Khắc T trình bày:
Ngày 20/02/2006 ông T1 và bà H có mượn ông số tiền 226.000.000 đồng để giải quyết việc gia đình, khi nào xong việc thì sẽ trả tiền cho ông. Khi vay hai bên có viết giấy mượn tiền ngày 20/02/2006. Hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng nhưng chỉ là thỏa thuận miệng, không viết vào giấy mượn tiền. Trong thời gian vay ông bà đã trả cho ông được tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Cụ thể: Ngày 10/3/2006 trả 50.000.000 đồng, ngày 14/3/2006 trả 20.000.000 đồng, ngày 18/7/2006 trả 20.000.000 đồng, ngày 25/7/2006 trả 20.000.000 đồng. Ông T1 và bà H còn nợ ông số tiền 116.000.000 đồng. Từ đó đến nay đã 17 năm ông T1 và bà H không trả tiền cho ông nữa, mặc dù ông đã yêu cầu ông bà nhiều lần trả tiền cho ông. Trước đây ông khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà H trả cho ông số tiền gốc 116.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 25/7/2006 đến nay là 340.000.000 đồng. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà H trả cho ông số tiền gốc làm tròn là 110.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 25/7/2006 đến nay là 340.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn bà Phạm Thị Thu H trình bày:
Vợ chồng bà đã ly hôn từ năm 2009 và thời điểm ly hôn thì ông T1 ở tại số C, C, ST M, V, 3012, A. Căn nhà tại số C, đường N đã chuyển nhượng cho người khác. Hiện nay bà cư trú tại số nhà E, đường N là do mẹ bà cho bà, còn ông T1 ở đâu bà không biết. Bà thừa nhận bà và ông T1 có nợ ông T số tiền 226.000.000 đồng, đã trả số tiền 116.000.000 đồng, còn nợ lại 110.000.000 đồng. Nay ông T khởi kiện yêu cầu bà và ông T1 trả số tiền gốc 110.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 25/7/2006 đến nay với mức lãi suất 20%/năm thì bà không đồng ý vì bà với ông T1 đã ly hôn và trước đây bà đã trả số tiền cho ông T là 116.000.000 đồng, trong đó có một phần tiền lãi nên bà không còn nghĩa vụ trả khoản nợ này nữa, mà nghĩa vụ trả khoản nợ còn lại này là của ông T1. Ngoài ra, bà H không trình bày gì thêm.
3. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến thông tin xuất nhập cảnh của T1 thì được biết ông T1 xuất nhập cảnh 2 lần qua Cửa khẩu N. Lần 1, xuất cảnh ngày 10/02/2014, nhập cảnh ngày 12/02/2014 và lần 2, xuất cảnh ngày 11/3/2016, nhập cảnh ngày 13/3/2016. Tòa án đã tiến hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn T1 trên Cổng thông tin điện tử ngành Tòa án, B và Trung tâm Q tại Thành phố Hồ Chí Minh ba số liên tiếp theo quy định. Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 theo quy định nhưng đến nay ông T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả cho ông số tiền gốc là 110.000.000 đồng và tiền lãi mức 20%/năm từ ngày 25/7/2006 đến ngày 25/2/2023 là 340.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng. Xử.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cù Khắc T với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H về việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H phải trả cho nguyên đơn ông Cù Khắc T số tiền nợ gốc 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) và nợ lãi 6.695.330 đồng (sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Tổng cộng là 116.695.330 đồng (một trăm mười sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Ngoài ra quyết định của bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 09/10/2023, nguyên đơn ông Cù Khắc T kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị trả tiền lãi cho nguyên đơn tính từ ngày mượn tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo. Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của ông L, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, cụ thể: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông L; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xuất phát từ việc nguyên đơn cho rằng giữa ông và ông L có xác lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 1000m² đất thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 tại thôn H, xã N, huyện L theo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” xác lập ngày 07/6/2022. Quá trình thực hiện các bên không thống nhất được với nhau về việc chuyển nhượng; từ khi thỏa thuận đến nay, diện tích đất ông L vẫn canh tác, sử dụng. Ông L1 khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giữa ông và ông L theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022; buộc ông L phải trả lại khoản tiền đã nhận cọc là 150.000.000 đồng. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, Tòa án xác định “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông L:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản giữa nguyên đơn ông Cù Khắc T với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa, bị đơn ông T1 vắng mặt đến lần thứ 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lện nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T1 là phù hợp.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông T1, bà H trả cho ông số tiền gốc là 110.000.000 đồng và tiền lãi mức 20%/năm từ ngày 25/7/2006 đến ngày 25/2/2023 là 340.000.000 đồng. Bà H thừa nhận bà và ông T1 có nợ ông T số tiền 226.000.000 đồng, đã trả số tiền 116.000.000 đồng, còn nợ lại 110.000.000 đồng nhưng bà H không đồng ý trả số tiền này do trước đây bà đã trả số tiền cho ông T là 116.000.000 đồng, nên bà không còn nghĩa vụ trả khoản nợ này nữa, mà nghĩa vụ trả khoản nợ còn lại này là của ông T1 vì ông bà đã ly hôn ngày 23/9/2009. Ông T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T.
Xét thấy: Theo giấy mượn tiền ngày 20/02/2006 bản chính do ông T cung cấp có chữ ký của ông T1 và bà H, tuy nhiên bà H cho rằng bà đã trả 116.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại 110.000.000 đồng là trách nhiệm của ông T1, vì bà với ông T1 đã ly hôn ngày 23/9/2009 là không có căn cứ. Bởi lẽ, đây là khoản vay khi bà H và ông T1 chưa ly hôn, bà H với ông T1 cùng vay và giấy mượn tiền cả hai cùng ký tên vào nên xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, buộc bà H, ông T1 cùng có trách nhiệm trả cho ông T số tiền nợ gốc còn lại 110.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Đối với yêu cầu lãi suất: Theo giấy mượn tiền ngày 20/02/2006 ông T1 và bà H hẹn khi nào xong việc ông bà sẽ hoàn trả lại số tiền này cho ông T, không có nội dung thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn trả nợ vào ngày tháng năm nào trong giấy mượn tiền. Ông T yêu cầu tiền lãi mức 20%/năm từ ngày 25/7/2006 đến ngày 25/2/2023 là 340.000.000 đồng. Bà H cho rằng ông T không báo cho bà về việc trả nợ, bà nghĩ trách nhiệm trả nợ của bà đã xong nên không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu của ông T. Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 477 Bộ luật Dân sự 2005: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác”.
Do ông T không cung cấp được tài liệu chứng cứ đã báo trước cho ông T1, bà H biết trước một thời gian hợp lý theo quy định. Đến ngày 17/02/2023 ông T mới nộp đơn khởi kiện nên chỉ có căn cứ tính lãi đối với yêu cầu tính lãi của ông T kể từ ngày 17/02/2023 là ngày Tòa án nhận đơn khởi kiện của ông T đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 27/9/2023 bằng 07 tháng 10 ngày, lãi suất theo quy định 10%/năm = 0,83%/tháng, cụ thể: 110.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng 10 ngày = 6.695.330 đồng. Do đó, buộc ông T1 và bà H phải trả cho ông T số tiền lãi 6.695.330 đồng theo quy định.
Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, buộc bị đơn ông T1 và bà H phải có trách nhiệm trả cho ông T số tiền nợ gốc 110.000.000 đồng và nợ lãi 6.695.330 đồng, tổng cộng là 116.695.330 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về lệ phí: Ông T đã dự nộp 4.000.000 đồng lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm ông T1, lệ phí thông báo là 3.044.000 đồng, số tiền còn lại đã trả cho ông T là 956.000 đồng. Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do ông T là người yêu cầu nên ông T phải chịu 3.044.000 đồng, đã nộp xong.
[4] Về án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T nên bị đơn bà H, ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 116.695.330 đồng x 5% = 5.834.766 đồng.
Ông T là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Với những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng là có căn cứ.
Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo của ông L không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tài L2.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cù Khắc T với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H về việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H phải trả cho nguyên đơn ông Cù Khắc T số tiền nợ gốc 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) và nợ lãi 6.695.330 đồng (sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Tổng cộng là 116.695.330 đồng (một trăm mười sáu triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
- Về lệ phí: Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ông Cù Khắc T phải chịu 3.044.000 đồng (ba triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), ông T đã nộp xong.
- Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.834.766 đồng (năm triệu tám trăm ba mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi sáu đồng).
Nguyên đơn ông Cù Khắc T là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Tài L2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0000032 ngày 05/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Ông L2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số /2023/DS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: /2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và T1,H
