TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:/2023/DS-PT
Ngày: 13 - 11 - 2023
V/v "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thành Tâm |
| Các Thẩm phán: | Ông Huỳnh Châu Thạch |
| Ông Nguyễn Văn Đức | |
| - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. | |
| - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. | |
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 318/2023/QĐ-PT ngày 25/10/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1979; bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964; bà Kiều Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Thanh M, sinh năm 1982; bà Đinh Thị H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày:
Ông bà có diện tích đất 1.950m² thuộc thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 9 tại xã Đ, huyện L. Nguồn gốc do ông bà nhận chuyển nhượng từ tháng 02/2022 của ông M, bà H1. Tháng 8/2022, ông bà phát hiện ông P, bà T lấn chiếm diện tích đất 716m² thuộc thửa đất số 1003. Ông bà đã nhiều lần yêu cầu ông P, bà T trả lại diện tích đất trên nhưng không trả.
Nay ông bà khởi kiện yêu cầu ông P, bà T phải trả diện tích đất lấn chiếm theo kết quả đo đạc là 726m² thuộc một phần thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 9 tại xã Đ, huyện L.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Năm 2021, ông bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.950m² thuộc thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 9 tại xã Đ, huyện L. Trong quá trình sử dụng đất, tháng 02/2022, ông bà chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông M, bà H1 với giá 780.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng đã được sang tên cho ông M, bà H1 hay chưa thì ông không biết. Trong quá trình chuyển nhượng ông M, bà H1 còn nợ lại ông bà số tiền 150.000.000 đồng. Cuối năm 2022, ông M, bà H1 chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất trên cho ông H, bà Y. Vì lý do ông M, bà H1 còn nợ lại ông bà 150.000.000 đồng nên ông bà đã lấy lại một phần đất diện tích khoảng 06m đất mặt đường kéo dài hết đất. Hiện nay phần đất này ông bà đã rào lại và chôn cột bê tông.
Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông bà đồng ý trả lại cho ông M, bà H1 số tiền đã nhận 630.000.000 đồng. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà với ông M, bà H1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M, bà H1 với ông H, bà Y. Hủy phần cập nhật trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 952736 về việc điều chỉnh sang tên ông M, bà H1 và điều chỉnh sang tên ông H, bà Y. Buộc ông M, bà H1 phải trả lại cho ông bà diện tích đất 1.950m² thuộc thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 9 tại xã Đ, huyện L.
Bị đơn bà Kiều Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Thanh M trình bày:
Tháng 3/2021, ông có lập hợp đồng đặt cọc để sang nhượng diện tích đất khoảng 2.000m² của ông P, bà T. Khi đặt cọc các bên cam kết sẽ chuyển đổi cho ông 200m² đất thổ cư. Ông đã đặt cọc cho ông P, bà T 680.000.000 đồng, số tiền còn lại 100.000.000 đồng sẽ thanh toán khi ông P, bà T làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tháng 8/2021, ông P, bà T đã tách xong phần đất trên nhưng chưa chuyển đổi 200m² đất thổ cư nhưng ông bà vẫn nhận chuyển nhượng. Ông bà giữ lại số tiền trên, đồng thời ông P, bà T cam kết vẫn chuyển đổi 200m² đất thổ cư cho ông bà. Tháng 12/2021, ông bà chuyển nhượng cho ông H, bà Y diện tích đất trên. Trước đó ông có liên hệ với ông P, bà T để trả tiền và không yêu cầu chuyển đổi đất thổ cư nhưng ông P, bà T không hợp tác và lấn chiếm đất của ông H, bà Y. Ông cam kết sẽ trả lại cho ông P, bà T số tiền còn nợ. Việc tranh chấp đất giữa ông bà với ông P, bà T thì để các bên tự thỏa thuận, giải quyết với nhau không liên quan đến việc tranh chấp đất giữa ông H, bà Y với ông P, bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà. Xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T.
Buộc ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T phải tháo dỡ 24 trụ bê tông được rào bằng lưới B40 để trả lại cho ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y diện tích đất 726m² thuộc một phần thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 9 tại xã Đ, huyện L. Có trích lục họa đồ lô đất kèm theo.
Ngoài ra quyết định của bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 05/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn P kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo. Nguyên đơn không kháng cáo, không đồng ý với kháng cáo của ông L, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, cụ thể: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông L; bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xuất phát từ việc nguyên đơn cho rằng giữa ông L với anh L1 có xác lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất 1000m2, đất thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 26 đất tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” xác lập ngày 07/6/2022. Quá trình thực hiện các bên không thống nhất được với nhau về việc chuyển nhượng; từ khi thỏa thuận đến nay, diện tích đất ông L vẫn canh tác, sử dụng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giữa anh L1 và ông L theo giấy ghi là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” lập ngày 07/6/2022; buộc ông L phải trả lại khoản tiền đã nhận cọc của anh L1 là 150.000.000đ. Bị đơn ông L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh L1 nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, Tòa án xác định “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị đơn ông L:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P, bà T, bà H1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xuất phát từ việc vợ chồng ông H, bà Y cho rằng nguồn gốc diện tích đất 1.950m² thuộc thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L có nguồn gốc do vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đỗ Thành M1, bà Đinh Thị H1 vào năm 2022. Trong quá trình sử dụng đất thì vợ chồng ông P, bà T đã lấn chiếm của vợ chồng ông bà diện tích đất theo kết quả đo vẽ là 726m², thuộc một phần thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L. Vì vậy, vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông P, bà T phải trả cho vợ chồng ông bà phần đất lấn chiếm nêu trên. Qua yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H, bà Y thì vợ chồng ông P, bà T không đồng ý. Nên các bên phát sinh tranh chấp. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp. Diện tích đất tranh chấp tọa lạc tại thôn T, xã Đ, huyện L nên căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H, bà Y về việc yêu cầu vợ chồng ông P, bà T phải trả lại diện tích đất 726m², thuộc một phần thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L thì thấy rằng:
Nguồn gốc diện tích đất 1.950m² thuộc thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L có nguồn gốc do vợ chồng ông H, bà Y nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đỗ Thành M1, bà Đinh Thị H1 vào năm 2022. Trước đó vợ chồng ông M1, bà H1 nhận chuyển nhượng diện tích đất này của vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T.
Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y là có cơ sở để chấp nhận bởi lẻ:
Nguồn gốc diện tích đất 1.950m² thuộc thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L có nguồn gốc do vợ chồng ông H, bà Y nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đỗ Thành M1, bà Đinh Thị H1 vào năm 2022. Việc chuyển nhượng diện tích đất nêu trên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh sang tên cho vợ chồng ông H, bà Y vào ngày 11/02/2022. Khi chuyển nhượng thì vợ chồng ông M1, bà H1 đã bàn giao đất cho vợ chồng ông H, bà Y để vợ chồng ông H, bà Y canh tác sử dụng. Ranh mốc thửa đất này đã được rào bằng hàng rào trụ bê bông, lưới B40. Trong quá trình sử dụng đất thì vợ chồng ông P, bà T đã xê dịch hàng rào, lấn chiếm đất của vợ chồng ông H, bà Y. Việc xê dịch hàng rào để lấy lại diện tích đất 726m² này cũng được ông P thừa nhận. Trước đây phần đất này là của vợ chồng ông P, bà T. Vợ chồng ông P, bà T đã chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng ông M1, bà H1 vào ngày 17/12/2021. Khi chuyển nhượng các bên đã hoàn tất thủ tục sang tên và bàn giao đất cho vợ chồng ông M1, bà H1 sử dụng. Đồng thời vợ chồng ông P, bà T cũng đã xác định ranh mốc bằng việc rào phần đất nêu trên bằng trụ bê tông và lưới B40.
Việc vợ chồng ông P, bà T cho rằng vì lý do vợ chồng ông M1, bà H1 còn nợ lại vợ chồng ông bà số tiền là 150.000.000đ nên vợ chồng ông bà đã lấy lại và rào hàng rào đối với phần đất đang tranh chấp nêu trên.
Qua xem xét thì thấy rằng: Đối với phần đất đang tranh chấp là 726m² thuộc thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L ông P đã thừa nhận ông đã lấy lại đất và rào hàng rào bởi lý do hiện nay vợ chồng ông M1, bà H1 đang còn nợ tiền của ông bà. Việc ông P lấy lại đất và lấn chiếm đất của vợ chồng ông H, bà Y với lý do vợ chồng ông M1, bà H1 còn nợ lại tiền của ông là hoàn toàn không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, sau khi vợ chồng ông P, bà T chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông M1, bà H1 thì các bên cũng đã bàn giao đất với nhau, việc chuyển nhượng giữa các bên đã hoàn tất thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật. Khi vợ chồng ông M1, bà H1 chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng ông H, bà Y thì các bên cũng đã bàn giao đất và đã hoàn tất thủ tục sang tên theo quy định. Phần đất này hiện nay đã được điều chỉnh sang tên vợ chồng ông H, bà Y nên thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông H, bà Y chứ không còn là của vợ chồng ông M1, bà H1 nên việc ông P đã lấy lại đất với lý do vợ chồng ông M1, bà H1 còn nợ tiền của ông là không có cơ sở để chấp nhận nên cần buộc vợ chồng ông P, bà Y phải trả lại cho vợ chồng ông H, bà Y phần đất nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật. Bên cạnh đó ông P cũng thừa nhận phần đất nêu trên là do ông lấy lại.
Đối với việc vợ chồng ông P, bà T cho rằng vì lý do vợ chồng ông M1, bà H1 còn nợ lại vợ chồng ông bà số tiền là 150.000.000đ nên vợ chồng ông bà đã lấy lại đất và rào hàng rào đối với phần đất đang chấp đồng thời vợ chồng ông bà đồng ý trả lại cho vợ chồng ông M1, bà H1 số tiền đã nhận chuyển nhượng là 630.000.000đ. Vợ chồng ông bà yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng ông M1, bà H1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông M1, bà H1 sang cho vợ chồng ông H, bà Y. Vợ chồng ông bà yêu cầu Tòa án hủy phần cập nhật trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 952736 về việc điều chỉnh sang tên cho vợ chồng ông M1, bà H1 và điều chỉnh sang tên cho vợ chồng ông H, bà Y. Buộc vợ chồng ông M1, bà H1 phải trả lại cho vợ chồng ông bà diện tích đất 1.950m², thuộc thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L.
Qua xem xét yêu cầu trên của ông P thì thấy rằng: Đối với những yêu cầu trên của ông P Tòa án đã ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí và tống đạt, niêm yết hợp lệ. Tuy nhiên ông P không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Vì vậy, việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông P, bà T với vợ chồng ông M1, bà H1 Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Sau này nếu các bên phát sinh tranh chấp và có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác là hoàn toàn có cơ sở.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, đo vẽ đối với phần diện tích đất hiện nay các bên đương sự đang tranh chấp với nhau. Qua kết quả đo vẽ thì phần diện tích đất hiện nay các bên đương sự đang tranh chấp là 726m², thuộc một phần thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L. Phần đất này cơ quan chuyên môn đã định giá có giá là 79.860.000đ, giá trị tài sản trên đất là 19.161200đ (bao gồm: cây trồng, hàng rào lưới bê 40, trụ bê tông). Tổng cộng là 99.021.200đ. Sau khi có kết quả đo vẽ và định giá tài sản thì các bên đương sự đồng ý với kết quả đo vẽ và định giá tài sản.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất lấn chiếm là 726m² thuộc một phần thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L. Có trích lục họa đồ lô đất kèm theo.
[4] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí cho việc đo đạc, định giá tài sản là 5.733.000₫, số tiền này vợ chồng ông H, bà Y đã tạm nộp và đã được quyết toán xong. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng trên. Tuy nhiên đối với số tiền này nguyên đơn tự nguyện nhận chịu toàn bộ và không yêu cầu bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền trên. Vì vậy, vợ chồng ông P, bà Y không phải thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên.
[6]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, còn nguyên đơn không đồng ý đối với lời trình bày của ông L nên lời trình bày của ông L là không có căn cứ.
Với những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại số tiền đặt cọc 150.000.000₫ là có căn cứ.
Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông L không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 117, 122, 123, 124, 131 và Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T phải tháo dỡ 24 trụ bê tông được rào bằng lưới b40 để trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y diện tích đất 726m² thuộc một phần thửa số 1003, tờ bản đồ số 9, bộ bản đồ địa chính xã Đ, huyện L. Có trích lục họa đồ lô đất kèm theo.
- Về chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T không phải thanh toán lại cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H bà Nguyễn Thị Ngọc Y số tiền chi phí tố tụng.
- Về án phí: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Kiều Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.951.000đ (Bốn triệu, chín trăm năm mươi mốt ngàn đồng).
Hoàn trả cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H, bà Nguyễn Thị Ngọc Y số tiền tạm ứng án phí là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012381 ngày 21/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà.
Báo cho các đương sự có mặt tại phiên Tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (28/7/2023) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0000041 ngày 14/9/2023. Ông L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Châu Thạch | Nguyễn Thành Tâm |
Nguyễn Văn Đức |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Bùi Hữu Nhân |
Bản án số /2023/DS-PT ngày 13/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: /2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H và P
