Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/DS-PT

Ngày: 30-7-2024

V/v: "T/c HĐ bảo hiểm ôtô và HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.

Các thẩm phán: Ông Trần Tiến Nghĩa.

Bà Đỗ Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm ô tô và hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 211/2023/DS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 170/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 463/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Hữu H, sinh năm 1983.
  • Địa chỉ: Số G, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Mộng Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 1, đường N, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
  • - Bị đơn: Tổng Công ty cổ phần B (viết tắt PTI).
  • Địa chỉ: Số I, đường T, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà T, số E, đường V, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Đ1.
  • Địa chỉ: Số A, đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP Đ1: Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số H, đường T, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của ông Trần Hữu H; bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của ông Nguyễn Mộng Đ:

Ông Trần Hữu H là chủ xe ô tô biển số 60A-565.34 nhãn hiệu Chevrolet Trailblazer (07 chỗ ngồi, sản xuất năm 2018) với Tổng Công ty cổ phần B (gọi tắt là B) có ký hợp đồng bảo hiểm xe ô tô vào ngày 04/01/2019. B đã cấp cho ông H 02 giấy chứng nhận bảo hiểm gồm: Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc tai nạn dân sự của chủ xe ô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô. Ngày 13/01/2019 chiếc xe trên đã gây tai nạn và bị hư hỏng nặng, đồng thời còn gây thiệt hại về sức khỏe cho 02 người ngồi trên xe.

Theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đ2 chuẩn đoán thương tích của 02 người ngồi trên xe lúc ra viện như sau:

  1. Ông Bùi Lý H2 bị gãy kín 1/3 giữa xương cánh tay phải, gãy đốt sống cổ C2.
  2. Bà Bùi Thị Kim N gãy hở đầu dưới 2 xương cẳng tay (P).

Theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ chuẩn đoán thương tích ông Bùi Lý H2 và bà Bùi Thị Kim N lúc ra viện như sau:

  1. Ông Bùi Lý H2 bị gãy thân C2, gãy 1/3 giữa xương cánh tay phải.
  2. Bà Bùi Thị Kim N bị vết thương mất da cẳng tay, dụng cụ cố định xương quang trụ dưới (P), sẹo dính ngón tay (P).

Ông H đã bồi thường cho ông H2 và bà N số tiền 180.000.000 đồng.

Do đã mua bảo hiểm về người và xe nên ông H khởi kiện yêu cầu B phải bồi thường cho ông H các khoản sau:

  1. Bồi thường về xe bị hư hỏng do tai nạn là 470.827.033 đồng.
  2. Bồi thường về người (02 người) là 180.000.000 đồng.

Tuy nhiên, tại Tòa án cấp sơ thẩm đại diện nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu đối với số tiền bồi thường thiệt hại về người, chỉ yêu cầu Bảo hiểm Bưu điện bồi thường số tiền 93.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1, người đại diện theo ủy quyền của ông H cũng thừa nhận ông H có vay vốn tại Ngân hàng và có thế chấp chiếc xe ô tô 60A-565.34 nhãn hiệu Chevrolet Traiblazer như Ngân hàng trình bày. Do xe gây tai nạn nên ông H gặp khó khăn về kinh tế chưa thanh toán số tiền đã vay cho Ngân hàng, do vậy đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

* Theo bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của ông Lê Anh T1 – là người đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty cổ phần B:

Bảo hiểm Bưu điện chỉ đồng ý bồi thường chi phí sửa xe ô tô biển số 60A-565.34 nhãn hiệu Chevrolet Trailblazer (07 chỗ ngồi, sản xuất năm 2018) tại thời điểm ngày 29/5/2019 với số tiền 287.095.115 đồng (chưa bao gồm VAT), không đồng ý với số tiền ông H khởi kiện yêu cầu bồi thường 470.827.033 đồng.

Về trách nhiệm dân sự về người:

  1. Ông Bùi Lý H2 bị gãy thân C2, gãy 1/3 xương cánh tay (P). Căn cứ bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC:

Vết thương gãy thân C2, tương đương mục VI 11.12 từ 31 triệu đồng đến 35 triệu đồng.

Vết thương gãy 1/3 giữa xương cánh tay (P) tương đương mục VI.17.1 từ 11 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

Như vậy, toàn bộ thương tật của ông H2 tương đương mức bồi thường từ 42 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

  1. Bà Bùi Thị Kim N bị tổn thương cơ duỗi và gân khác ở tầm cẳng tay (1), gãy xương đầu dưới xương trụ (2); Gãy xương đầu dưới xương quay (3); Vết thương hở các phần khác của cổ tay và bàn tay (4); Vết thương hở các phần khác của đầu.
  • Vết thương (1) tương đương mục XI 2.3.1 từ 11 triệu đồng đến 15 triệu đồng.
  • Viết thương (2) tương đương mục VI.2.9.1 từ 06 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
  • Vết thương (3) tương đương mục VI.2.8 tương đương 08 triệu đồng.
  • Viết thương (4) tương đương mục VI.2.1 từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng.

Như vậy, toàn bộ thương tật của bà N tương đương mức bồi thường từ 31 triệu đồng đến 43 triệu đồng.

Toàn bộ thương tật của ông H2 và bà N tương đương mức 73 đến 93 triệu đồng.

Do vậy, về trách nhiệm dân sự về người Bảo hiểm Bưu điện chỉ đồng ý bồi thường với mức 93 triệu đồng.

Về ý kiến đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Theo đơn khởi kiện độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1; bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền ông Trần Ngọc H1:

Ông Trần Hữu H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1 (gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 09/2019/HĐTD-ĐN ngày 07/01/2019 với số tiền gốc vay là 740.000.00 đồng, thời hạn vay 108 tháng (từ 07/01/2019 đến 07/01/2028), mục đích vay là để mua xe ô tô Chevrolet, gốc và lãi được trả vào ngày 15 hàng tháng. Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ngày 07/01/2019 Ngân hàng đã giải ngân cho ông H số tiền 740.000.000 đồng.

Để đảm bảo khoản vay trên, ông H có dùng tài sản bảo đảm là xe ô tô Chevrolet Traiblazer, màu xám 07 chỗ biển số 60A-565.34 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 084690 do Công an Đ3 cấp ngày 04/01/2019. Tài sản thế chấp được thực hiện theo nghĩa vụ tại Hợp đồng thế chấp số 09/2019/HĐTC-ĐN ngày 04/01/2019 và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Đà Nẵng theo quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hiện ông H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 688.365.536 đồng và số tiền lãi là 437.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 17/10/2023 là 1.125.365.536 đồng nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền gốc, lãi trên cũng như trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký.

Ngân hàng yêu cầu Toà án tuyên chiếc xe ô tô trên tiếp tục được xác định là tài sản đảm bảo, được ưu tiên phát mãi để thi hành án trong trường hợp ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán của mình cho Ngân hàng. Đồng thời, nếu số tiền ông H được bảo hiểm bồi thường thông qua Ngân hàng không

đủ thì ông H phải tiếp tục có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong hết các khoản nợ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 211/2023/DS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng các Điều 26, 35, 40, 147, 203, 220, 264, 267, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275, 688, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 46, 47, 48 của Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000 đã được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2019; Điều 91 của Luật Tổ chức Tín dụng; Điều 9 và Điều 11 Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ T3 quy định về quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu H do rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại về người với số tiền 87.000.000 đồng (T2 mươi bảy triệu đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu H.

Buộc Tổng Công ty B phải chi trả tiền bảo hiểm cho ông Trần Hữu H với tổng số tiền 563.827.033 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu tám trăm hai bảy nghìn không trăm ba mươi ba đồng). Trong đó: Tiền bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô là 470.827.033 đồng, tiền bồi thường thiệt hại về người là 93.000.000 đồng.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1.

Buộc ông Trần Hữu H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số tiền 1.125.365.536 đồng (trong đó nợ gốc là 688.365.536 đồng và nợ lãi là 437.000.000 đồng tạm tính đến ngày 17/10/2023).

Tài sản thế chấp đảm bảo cho việc thi hành án đối với khoản vay trên là xe ô tô biển số 60A-565.34 loại xe 07 chỗ nhãn hiệu Chevrolet (số khung MMM156EM0KH632558, số máy LP2G182741105 mà ông H đã được Công an tỉnh Đ3 cấp giấy chứng nhận đăng ký xe số 084690) tiếp tục được xác định là tài sản đảm bảo, được ưu tiên phát mãi để đảm bảo thi hành án theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09 ngày 04/01/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09/2019/HĐTC-ĐN/PL01 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Đà Nẵng chứng nhận.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01/11/2023, Bảo hiểm B có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2023/DS-ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận số tiền sửa chữa, khắc phục tổn thất thực tế theo số tiền mà Bảo hiểm Bưu điện công nhận và đồng ý bồi thường cho ông H là 287.095.115 đồng (số tiền trên đã trừ phần giảm giá gara liên kết, thuế giá trị gia tăng và mức khấu trừ theo hợp đồng). Ngoài ra, Bảo hiểm Bưu điện đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại người thụ hưởng số tiền bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm số 1802226565/HĐ/007-KD2/XO/2019.

Ngày 03/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2352/QĐ-VKS-DS ngày 03/11/2023 đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2023/DS0ST ngày 20-10-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về khoản tiền bồi thường chi phí sửa chữa xe do hiện nay nguyên đơn chưa sửa chữa, chưa cung cấp hóa đơn chứng từ về chi phí thực tế sửa chữa xe hợp lệ theo quy định tại Điều 14 của Thông tư số 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ T3 để chứng minh xem xét bồi thường theo quy định. Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo báo giá của Công ty TNHH T4 (C) buộc bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 470.827.033 đồng là chưa phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.

Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với kháng cáo của bị đơn, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về trách nhiệm bảo hiểm vật chất:

Quá trình thực hiện việc bồi thường các bên không thống nhất giá trị bồi thường đối với chiếc xe ô tô biển số 60A-656.34. Mặc dù các bên đã thống nhất lựa chọn Công ty T4 sửa chữa và theo báo giá số bg985904 ngày 28/02/2019 của Công ty T4 thì số tiền sửa chữa là 470.827.033 đồng (đã bao gồm VAT). Ông H thống nhất với báo giá trên nhưng Bảo hiểm Bưu điện không đồng ý và phê duyệt lại báo giá của Công ty T4, chỉ chấp nhận bộ phận nào hư hỏng trên 70% thì thay thế mới, còn bộ phận nào hư hỏng dưới 70% thì sửa chữa. Nhận thấy từ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Bảo hiểm Bưu điện không thống nhất giá trị bồi thường sửa chữa xe nhưng không thực hiện giám định thiệt hại độc lập và không cũng yêu cầu Toà án trưng cầu giám định độc lập, Bảo hiểm Bưu điện đã chấp nhận cho ông H chọn Công ty T4 là công ty sửa chữa chính hãng của C báo giá sửa chữa xe nên việc Bảo hiểm Bưu điện chỉ đồng ý bồi thường cho ông H số tiền 287.095.115 đồng (số tiền còn lại sau khi trừ 10% phần giảm giá gara liên kết, thuế giá trị gia tăng và số tiền 500 000 đồng mức khấu trừ theo hợp đồng) là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, theo Điều 2 Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019 các bên thoả thuận về Điều khoản sửa đổi, bổ sung có “Điều khoản lựa chọn cơ sở sửa chữa” nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khợi kiện của ông H, buộc B phải bồi thường cho ông H số tiền 470.827.033 đồng là có căn cứ.

Về cách tuyên: Tại mục 6.2 Điều 6 điều khoản thụ hưởng bảo hiểm, việc chi trả số tiền bồi thường sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản tiền gửi của bên A tại Ngân hàng TMCP Đ1. Do đó, cần buộc Bảo hiểm Bưu điện bồi thường số tiền 470.827.033 đồng thông qua tài khoản của ông H được mở tại Ngân hàng TMCP Đ1.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông H đồng ý khấu trừ số tiền 500.000 đồng/vụ bảo hiểm cho Bảo hiểm Bưu điện nên kháng cáo của Bảo hiểm Bưu điện đối với nội dung này được chấp nhận.

Đối với quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa như trên đã phân tích thì yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ chấp

nhận nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa là không có cơ sở vững chắc, vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai rút toàn bộ quyết định kháng nghị nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về cách tuyên, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc khấu trừ 500.000/vụ bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Đơn kháng cáo của Tổng Công ty cổ phần B trong hạn luật định và Tổng Công ty cổ phần B cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

1.2. Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai xin rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2352/QĐ-VKS-DS ngày 03/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm trên. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2352/QĐ-VKS-DS ngày 03/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

[2] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo:

3.1. Về nội dung vụ án: Ông Trần Hữu H khởi kiện yêu cầu Tổng Công ty cổ phần B (gọi tắt B) bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô với số tiền 470.827.033 đồng và bồi thường thiệt hại về người với số tiền 93.000.000 đồng.

3.2. Theo Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019 cho thấy ông H đã mua bảo hiểm tự nguyện xe ô tô và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô của Bảo hiểm Bưu điện và được Bảo hiểm Bưu điện cấp 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số TN 180226565 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số BB 180413750. Số tiền ông H đóng phí bảo hiểm tự nguyện xe ô tô là 15.262.500 đồng và phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô là 873.400 đồng, thời hạn bảo hiểm có hiệu lực từ ngày 04/01/2019 đến ngày 04/01/2020.

Chiếc xe ô tô được ông H mua các loại bảo hiểm như đã nêu trên có biển số 60A-565.34, nhãn hiệu Chevrolet Trailblazer loại 7 chỗ sản xuất năm 2018 (ông H đã được Công an tỉnh Đ3 cấp giấy chứng nhận đăng ký xe số 084690) đã gây tai nạn vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 13/01/2019 tại Đường H+800, thuộc ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai (do tài xế Trần Công H3, sinh năm 1979 điều khiển) với xe mô tô biển số 60B6-557.65 lưu thông cùng chiều do bà Bùi Thị Kim N điều khiển chở theo sau

là ông Bùi Lý Huỳnh. Hậu quả tai nạn làm bà N và ông H2 bị thương, xe ô tô và xe mô tô đều bị hư hỏng. Sau khi xảy ra tai nạn, ông H đã thương lượng bồi thường cho bà N và ông H2 số tiền 180.000.00 đồng (mỗi người 90.000.000 đồng).

Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh Bảo hiểm, Nghị định 03/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019 thì vụ việc xảy ra tai nạn trên không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm B phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm cho ông H vì sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực.

Đối với trách nhiệm bảo hiểm vật chất: Quá trình thực hiện việc bồi thường các bên thống nhất lựa chọn Công ty TNHH T4 (gọi tắt là Công ty T4) sửa chữa. Theo bản báo giá sửa chữa số bg985904 ngày 28/02/2019 của Công ty T4 thì số tiền sửa chữa xe ô tô biển số 60A-565.34, nhãn hiệu Chevrolet Trailblazer loại 7 chỗ sản xuất năm 2018 của ông H là 470.827.033 đồng (đã bao gồm thuế VAT), ông H đồng ý với báo giá sửa chữa trên nhưng phía Bảo hiểm Bưu điện không đồng ý và chỉ công nhận giá sửa chữa xe tại Công ty T4 với số tiền 318.994.573 đồng (số tiền trên chưa trừ 10% phần giảm giá gara liên kết, thuế giá trị gia tăng và số tiền 500 000 đồng mức khấu trừ theo hợp đồng) và sau khi tính toán trừ phần giảm giá gara liên kết, thuế giá trị gia tăng và mức khấu trừ theo hợp đồng thì số tiền Bảo hiểm Bưu điện đồng ý bồi thường cho ông H còn lại là 287.095.115 đồng.

Xét thấy sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường của Bảo hiểm Bưu điện đối với ông H đã xảy ra từ ngày 13/01/2019, mặc dù không đồng ý với giá sửa chữa xe do Công ty T4 đưa ra nhưng Bảo hiểm Bưu điện không thực hiện giám định thiệt hại độc lập và cũng không yêu cầu Toà án trưng cầu giám định độc lập. Mặt khác, Bảo hiểm Bưu điện đã đồng ý với ông H chọn Công ty T4 là công ty sửa chữa chính hãng của C báo giá sửa chữa nên việc Bảo hiểm Bưu điện tự phê duyệt lại các hạng mục sửa chữa là không có căn cứ khách quan nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là có cơ sở. Ngoài ra, tại Điều 2 (quy định về Các loại hình bảo hiểm) của Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019 có thể hiện về Điều khoản sửa đổi, bổ sung, trong đó có “Điều khoản lựa chọn cơ sở sửa chữa”. Vì các bên đã thống nhất lựa chọn Công ty T4 là công ty sửa chữa chính hãng của C để sửa chữa xe và Công ty T4 đã có báo giá với số tiền 470.827.033 đồng (đã bao gồm thuế VAT) nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khợi kiện của ông H, buộc B phải bồi thường cho ông H số tiền 470.827.033 đồng là đúng với quy định pháp luật.

Tuy nhiên, tại Điều 2 của Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019, trong mục: Số tiền bảo hiểm/Giới hạn trách nhiệm có thể hiện “Mức khấu trừ theo hợp đồng” với ý nghĩa là người mua bảo hiểm phải khấu trừ lại cho bên bán bảo hiểm số tiền 500.000 đồng/vụ việc nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không khấu trừ cho Bảo hiểm Bưu điện là đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Bảo hiểm Bưu điện. Do tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông H cũng đồng ý trừ cho Bảo hiểm Bưu điện số tiền trên nên cần chấp nhận một phần kháng của B, sửa bản án sơ thẩm theo hướng khách quan và sau khi khấu trừ số tiền trên cho Bảo hiểm Bưu điện thì số tiền sửa chữa xe còn lại buộc B phải bồi thường cho ông H là 470.327.033 đồng.

Ngoài ra, tại mục 6.2 Điều 6 của Hợp đồng bảo hiểm xe ô tô số [...]/HD/007-KD2/XO/2019 ngày 04/01/2019 có thể hiện việc thỏa thuận giữa ông H với B và Ngân hàng TMCP Đ1 về việc chi trả số tiền bồi thường thiệt hại (nếu có ) như sau: “Khi xảy ra rủi ro tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm với mức thiệt hại ước tính từ 10.000.000 VNĐ số tiền tham gia bảo hiểm của xe bị tổn thất. Bên A có trách nhiệm thông báo cho bên B để phối hợp cùng bên C giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này, việc chi trả số tiền bồi thường (nếu có) sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản tiền gửi của bên A...”. Như vậy, căn cứ theo thỏa thuận trên thì việc chi trả số tiền bồi thường cho ông H sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản tiền gửi của ông H được mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Đ4 nên cần sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên đối với phần này, cụ thể là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Đ4 và buộc B phải bồi thường cho ông H số tiền 470.327.033 đồng thông qua tài khoản tiền gửi số 12100014821013 được ông H mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Đ4.

Về bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc tai nạn xảy ra, ông H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho hai nạn nhân Bùi Thị Kim N và Bùi Lý H2 số tiền 180.000.000 đồng (thể hiện tại đơn bãi nại). Tuy nhiên, tại Tòa án cấp sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông H đã rút một phần yêu cầu khởi kiện và chỉ yêu cầu B phải bồi thường lại cho ông H số tiền 93.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là đúng quy định. Đồng thời, Bảo hiểm Bưu điện cũng đồng ý bồi thường cho ông H số tiền trên nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận cũng là phù hợp.

[4] Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 09/2019/HĐTD-ĐN ngày 04/01/2019, Phụ lục hợp đồng tín dụng số 09/2019/HĐTD-ĐN ký ngày 04/01/2019 và Giấy ghi nhận nợ ngày 07/01/2019 và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ cũng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng, người đại diện theo ủy quyền của ông H để buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền gốc vay là 688.365.536 đồng và tiền lãi là 437.000.000 đồng tính đến ngày 17/10/2023 là đúng với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, căn cứ theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09 ngày 04/01/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09/2019/HĐTC-ĐN/PL01 cho thấy ông H đã dùng tài sản là xe ô tô biển số 60A-565.34 thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định chiếc xe trên được ưu tiên phát mãi để đảm bảo thi hành án trong trường hợp ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán của mình cho Ngân hàng cũng là đúng với quy định.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc Bảo hiểm Bưu điện phải chịu là đúng quy định. Tuy nhiên, do sửa giảm số tiền B phải bồi thường cho ông H nên cũng cần sửa giảm số tiền án phí dân sự sơ thẩm cho Bảo hiểm Bưu điện, cụ thể Bảo hiểm Bưu điện chỉ còn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 26.533.000 đồng. Ngoài ra, do yêu cầu độc lập của Ngân hàng đối với ông H được chấp nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 45.761.000 đồng cũng là đúng theo quy định.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Bảo hiểm Bưu điện được chấp nhận một phần nên Bảo hiểm Bưu điện không phải chịu, hoàn trả lại cho Bảo hiểm Bưu điện số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

[7] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của Tổng Công ty cổ phần B.

Căn cứ các Điều 26, 35, 40, 147, 203, 220, 264, 267, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275, 688, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 46, 47, 48 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000, đã được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2019; Điều 91 Luật Tổ chức Tín dụng; Điều 9, 11 Thông tư 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ T3 quy định về Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu H đối với Tổng Công ty cổ phần B về việc rút một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về người với số tiền 87.000.000 đồng (T2 mươi bảy triệu đồng).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hữu H.

2.1. Buộc Tổng Công ty cổ phần B phải chi trả số tiền 563.327.033 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu ba trăm hai bảy nghìn không trăm ba mươi ba đồng) bảo hiểm cho ông Trần Hữu H. Trong đó số tiền bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô là 470.327.033 đồng và số tiền bồi thường thiệt hại về người là 93.000.000 đồng.

2.2. Số tiền 470.327.033 đồng bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô được Tổng Công ty cổ phần B chi trả cho ông Trần Hữu H thông qua tài khoản tiền gửi số 12100014821013 được ông Trần Hữu H mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Đ4.

2.3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng TMCP Đ1.

3.1. Buộc ông Trần Hữu H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 1.125.365.536 đồng (trong đó số tiền gốc vay là 688.365.536 đồng và số tiền lãi tạm tính đến ngày 17/10/2023 là 437.000.000 đồng).

3.2. Tài sản đảm bảo thi hành án cho khoản vay trên là xe ô tô biển số 60A-565.34, loại 07 chỗ nhãn hiệu Chevrolet có số khung MMM156EM0KH632558, số máy LP2G182741105 được Công an tỉnh Đ3 cấp giấy chứng nhận đăng ký xe số 084690 đứng tên ông Trần Hữu H (Theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09 ngày 04/01/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp xe ô tô số 09/2019/HĐTC-ĐN/PL01 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng).

3.3. Trong trường hợp ông Trần Hữu H chưa thanh toán xong các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 thì bắt đầu từ ngày 18/10/2023, ông H phải trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 09/2019/HĐTD-ĐN ngày 04/01/2019, Phụ lục hợp đồng tín dụng số 09/2019/HĐTD-ĐN ký ngày 04/01/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ.

  1. Về án phí DS-ST:

4.1. Tổng Công ty Cổ phần B phải chịu số tiền 26.533.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).

4.2. Ông Trần Hữu H phải chịu số tiền 45.761.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Trừ vào số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai thu số 0006835 ngày 30/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, số tiền ông H còn phải nộp là 30.671.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

4.3. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 21.515.000 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004218 ngày 11/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

  1. Về án phí DS-PT: Tổng Công ty Cổ phần B không phải chịu. Hoàn trả lại cho Tổng Công ty Cổ phần B số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009599 ngày 09/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
  2. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP . Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/DS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm ô tô và hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 202/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm ô tô và hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C HĐ bảo hiểm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger