Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Đỗ Văn Mạnh

- Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT: Thôn 2, xã A, huyện T, thành phố H; nơi tạm trú: Thôn A, xã K, huyện T, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trương Tuấn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 2, xã A, huyện T, thành phố H; vắng mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị N (nguyên đơn) khai:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 04 tháng 12 năm 2009. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hoà thuận hạnh phúc nH đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, tính cách. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nH không có kết quả nên chị N đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng sinh sống. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trương Tuấn H.

Về con chung: Chị Lê Thị N khai chị và anh Trương Tuấn H có hai con chung là Trương Tuấn Việt A, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2010 và Trương Thị Hải Y, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2020. Hiện chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng Trương Thị Hải Y; anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Tuấn Việt A. Ly hôn, chị Lê Thị N đề nghị Toà án giao con Trương Thị Hải Y cho chị nuôi dưỡng và giao con Trương Tuấn Việt A cho anh H nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H tự thỏa thuận và giao nhận với nhau nên chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Trương Tuấn H cũng như đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà án để làm việc, nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do và không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị N được ly hôn với anh H. Về con chung: Giao con chung Trương Thị Hải Y, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2020 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Trương Tuấn Việt A, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2010 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Bị đơn là anh Trương Tuấn H có nơi cư trú tại thôn 2, xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn là chị Lê Thị N và bị đơn là anh Trương Tuấn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nH chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình giải nH không có kết quả nên chị N đã đưa con nhỏ về nhà mẹ đẻ tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng sinh sống; hai bên không còn tình cảm, trách nhiệm gì với nhau. Hội đồng xét xử xét: Mâu thuẫn giữa chị N và anh H phát sinh kéo dài; mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt; phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, do đó mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, cần chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H có hai con chung là Trương Tuấn Việt A, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2010 và Trương Thị Hải Y, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2020. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Thị Hải Y và giao anh H nuôi dưỡng con chung Trương Tuấn Việt A. Anh H vắng mặt tại phiên tòa và không có quan điểm, ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện từ khi sống ly thân chị N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trương Thị Hải Y, anh H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trương Tuấn Việt A và vẫn bảo đảm tốt về mọi mặt; chị N và anh H đều có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, cần giao con chung Trương Thị Hải Y cho chị Lê Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chugn Trương Tuấn Việt A cho anh Trương Tuấn H được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với tình hình thực tế.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[5] Về tài sản chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6] Về án phí: Chị Lê Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Trương Tuấn H.
  2. Về con chung: Giao con chung Trương Tuấn Việt A, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2010 cho anh Trương Tuấn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Trương Thị Hải Y, sinh ngày 22 tháng 3 năm 2020 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

  3. Về án phí: Chị Lê Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009950 ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Lê Thị N và anh Trương Tuấn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã An Sơn, huyện Thủy Nguyên;
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số 64 ngày 04/12/2009);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lương Ngọc Dũng

5


THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

Đỗ Văn Mạnh

Lương Ngọc Dũng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho chị Lê Thị Ninh được ly hôn với anh Trương Tuấn Hưng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger