Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 202/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nghiệp và ông Phan Phước Tân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 261/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ C, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Ông V vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ ông Nguyễn Văn V trình bày: Hôn nhân giữa ông V và bà Trần Thị Mỹ L do tự tìm hiểu, được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 62 ngày 13/06/2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà L không chung thủy, có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Khoảng tháng 10/2023 thì bà L tự ý bỏ đi và ly thân với ông V cho đến nay, trong thời gian ly thân các bên không có ý định hàn gắn. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông Nguyễn Văn V nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Mỹ L.

Về con chung: Ông và bà L không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì bà L vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản lấy lời khai ngày 29/3/2024, người thân trong gia đình ông V cung cấp: Cuộc sống vộ chồng giữa V và L không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nghe V nói L có người đàn ông khác bên ngoài. Hai đứa đã ly thân và không còn sống chung từ tháng 10/2023 cho đến nay; hai đứa sống chung nhưng không có con chung; về tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.

Biên bản xác minh ngày 30/3/2024, Công an xã P cung cấp, bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1987, hiện thường trú tổ C, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà: Ông V vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà L vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông V, bà L có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Đương sự xác định không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn V yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Mỹ L. Bà L cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông V vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa ông V, bà L do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã P, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 62 ngày 13/06/2019 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của ông V xin ly hôn với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông V, bà L phát sinh nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng bà L không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình ông V cung cấp, nên yêu cầu ly hôn của ông V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Ông V xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông V xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Ông Vũ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Trần Thị Mỹ L.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà ông V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số 0009232 ngày 27/02/2024. Bà L không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

3

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1)
  • - VKSND huyện An Phú (2);
  • - Chi cục THADS huyện An Phú (1);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Chúc Phương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger