Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Nguyên.
  2. Bà Đặng Thị Mỹ Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 670/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 599/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc Tuyền, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ 01, ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt; có Đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Hoàng Phương, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ 01, ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 8 năm 2023, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Tuyền trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Hoàng Phương tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau; được gia đình hai bên chấp thuận nên ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào tháng 9 năm 2006. Tuy nhiên, đến ngày 02/4/2010, ông bà mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 8, Thành phố Sóc Trăng vào ngày 02/4/2010. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi thành vợ chồng, ông bà chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, tính tình không phù hợp nên bà Tuyền đã viết Đơn xin ly hôn từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn nên bà Tuyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phương.

Về con chung: Bà Tuyền và ông Phương có một con chung tên Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007. Hiện con chung đang sinh sống ổn định cùng bà Tuyền. Bà Tuyền yêu cầu được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007; bà không yêu cầu ông Phương cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tuyền trình bày không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Võ Hoàng Phương đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Phương đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Phương vẫn vắng mặt; không rõ lý do.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án,

Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Tuyền có Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 21/11/2023 với lý do bận công việc.

Bị đơn ông Võ Hoàng Phương vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.

Tại Văn bản trình bày ý kiến của con chung là cháu Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007 vào ngày 15/11/2023 có nội dung thể hiện nguyện vọng của cháu Nam là mong muốn Tòa án xem xét cho cháu Nam được tiếp tục sống chung với mẹ ruột là bà Tuyền trong trường hợp Tòa án chấp nhận cho bà Tuyền được ly hôn với ông Phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Lê Thị Ngọc Tuyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Hoàng Phương và có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).

Bị đơn của vụ án là ông Võ Hoàng Phương có nơi cư trú tại Tổ 01, ấp Mỹ Khánh 1, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phương theo quy định tại Điều 175, Điều 179, Điều 195 BLTTDS. Ông Phương vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt của ông Phương không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên việc HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Phương là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Tuyền là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 231 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Tuyền và ông Phương.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc Tuyền trình bày, bà và ông Võ Hoàng Phương tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau, được gia đình hai bên chấp thuận nên ông bà tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào tháng 9 năm 2006. Đến ngày 02/4/2010, ông bà mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 8, Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi thành vợ chồng, ông bà chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, tính tình không phù hợp nhau. Vì vậy, ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn nên bà Tuyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phương.

Chứng minh cho lời trình bày, bà Tuyền có cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 02/4/2010 của UBND phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Lê Thị Ngọc Tuyền và ông Võ Hoàng Phương; Giấy khai sinh của con chung Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007. Như vậy, bà Tuyền đã thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của BLTTDS. Ngược lại, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông Phương vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS. Do đó, lời trình bày và chứng cứ mà bà Tuyền cung cấp là cơ sở để HĐXX xác định hôn nhân giữa bà Tuyền với ông Phương là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận nhưng vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn làm cho vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau là có thật.

HĐXX xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện của vợ hoặc chồng. Bà Tuyền và ông Phương đều đã vi phạm nghiêm trọng Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa của vợ chồng dành cho nhau. Quan hệ hôn nhân giữa bà Tuyền và ông Phương đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Tuyền yêu cầu được ly hôn ông Phương là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Ông bà có một con chung tên Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007, hiện con chung đang sinh sống với bà Tuyền. Xét thấy, dưới sự chăm sóc, giáo dục của bà Tuyền, cháu Nam sinh sống ổn định và phát triển bình thường, cho thấy bà Tuyền có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Do đó, yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung của bà Tuyền là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con chung và hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, ông Phương vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng cho con, do bà Tuyền không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết; tuy nhiên, vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Bà Tuyền trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này các bên chứng minh vợ chồng có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không tự thỏa thuận phân chia được thì có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn ở vụ án khác.

Về nợ chung: Bà Tuyền xác định vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không có yêu cầu gì; vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này có bên thứ ba bất kỳ chứng minh được nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Tuyền với ông Phương vẫn phải cùng liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[3] Về án phí:

Bà Tuyền phải chịu án phí sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Tuyền đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002563, ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Phương không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc Tuyền. Cho bà Lê Thị Ngọc Tuyền được ly hôn với ông Võ Hoàng Phương.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Hoàng Nam, sinh ngày 06/02/2007 cho bà Lê Thị Ngọc Tuyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Võ Hoàng Nam thành niên; trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Ông Võ Hoàng Phương không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Lê Thị Ngọc Tuyền không yêu cầu.
  3. Bà Lê Thị Ngọc Tuyền cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Võ Hoàng Phương trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Không ai có quyền ngăn cấm hoặc cản trở. Việc nuôi con chung không cố định. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con.
  4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về quan hệ nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc Tuyền phải chịu án phí sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Tuyền đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002563, ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Phương không phải chịu án phí.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS Tp. Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND Phường 8, Tp Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 670/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 670/2023/TLST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger