TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 202/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Ngân |
| Ông Trần Ngọc Đăng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng N, sinh năm 1990;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: L 402 02 – 388 Warsaw Balan (Cộng hòa B); vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Kiều H, sinh năm 1990;
Địa chỉ cư trú: Xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin xét xử vắng mặt (có chứng thực của Đ tại Cộng hòa B), nguyên đơn chị Phan Thị Hồng N trình bày:
Chị và anh Kiều H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 18/7/2017, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất hoà. Đến năm 2023, chị đi xuất khẩu lao động tại Ba Lan. Do khoảng cách xa, vợ chồng không gặp gỡ nhau nên xảy ra mâu thuẫn không thể dung hòa được. Lâu nay chị đang cư trú và làm việc tại Ba Lan, còn anh H đang làm việc tại Việt Nam. Hiện tại, vợ chồng không còn tình cảm và không liên lạc với nhau nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kiều H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Kiều Phan Tú A, sinh ngày 04/12/2015. Hiện con chung đang ở cùng anh H tại xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị và anh H thỏa thuận: Giao con chung cho anh Kiều H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành và anh H không yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phan Thị Hồng N hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa B không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Trần Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị có đơn xin xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, bị đơn anh Kiều H trình bày:
Anh và chị Phan Thị Hồng N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 18/7/2017, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất hoà. Đến năm 2023, chị N đi xuất khẩu lao động sang Ba Lan. Do khoảng cách xa, vợ chồng không gặp gỡ nhau nên xảy ra mâu thuẫn không thể dung hòa được. Lâu nay, chị N đang sống và làm việc tại Ba Lan, còn anh đang làm việc tại Việt Nam. Hiện tại, vợ chồng không còn tình cảm và không liên lạc với nhau nữa nên chị N làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Kiều Phan Tú A, sinh ngày 04/12/2015. Hiện con chung đang ở với anh tại xóm M, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, anh và chị N thỏa thuận: Anh được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến lúc trưởng thành và anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Kiều H hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị Hồng N hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa B đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kiều H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Phan Thị Hồng N không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Phan Thị Hồng N hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa B không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị N ủy quyền cho anh Trần Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu (có chứng nhận của Đ tại Cộng hòa B) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, và chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Kiều H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên anh đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 18 tháng 7 năm 2017, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất hoà. Đến năm 2023, chị N đi xuất khẩu lao động sang nước Cộng hòa B. Do ở xa, vợ chồng không gặp gỡ nhau nên xảy ra mâu thuẫn không thể dung hòa được. Về phía chị N đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa B, còn anh Kiều H đang cư trú và làm việc tại Việt Nam. Hiện tại, vợ chồng không còn tình cảm và không liên lạc với nhau nên chị N nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kiều H. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Phan Thị Hồng N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H có 01 con chung. Nay ly hôn, chị N và anh Kiều H thỏa thuận: Anh H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Kiều Phan Tú A, sinh ngày 04/12/2015 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành và anh H không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Phan Thị Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phan Thị Hồng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H được ly hôn.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Chị Phan Thị Hồng N và anh Kiều H có 01 con chung;
Giao cho anh Kiều H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Kiều Phan Tú A, sinh ngày 04/12/2015 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Kiều H không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con
Sau khi ly hôn, chị Phan Thị Hồng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Phan Thị Hồng N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012807 ngày 25/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Phan Thị Hồng N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Hồng N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Kiều H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa N và H
