Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09/4/2025

V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 03 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21/3/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm: 1990; ĐKHKTT: Số G V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số E Ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt);

- Bị đơn: Anh Trương Tiến D, sinh năm: 1986; ĐKHKTT: Số G V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số E Ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Hằng N trình bày như sau:

Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 15/10/2009 tại UBND phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Cuộc sống chung giữa chị N và anh D không có hạnh phúc. Nhiều lần hai bên gia đình nói chuyện, hoà giải nhưng không đoàn tụ được. Chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D có hai con chung là Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010 và Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016. Chị N có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016; anh Trương Tiến D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nhà ở: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D không vay nợ ai và không cùng cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên anh Trương Tiến D đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.

Tại phiên tòa, anh Trương Tiến D vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 35, 39, 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các văn bản tố tụng tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 179; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hằng N. Chị Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn với anh Trương Tiến D. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hằng N về việc nuôi con chung: Giao con Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hằng N có đơn xin ly hôn đối với anh Trương Tiến D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số G V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số E Ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Anh Trương Tiến D đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày ngày 15/10/2009 tại UBND phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống chị N khẳng định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn của chị N và anh D đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ.

Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân của chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D không đạt được mục đích đó. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể, chị N làm đơn xin ly hôn anh D là phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hằng N.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D có hai con chung là Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010 và Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016. Chị N có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016; anh Trương Tiến D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trương Bảo N1, sinh ngày: 01/8/2010. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy; Thực tế chị N vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016. Con Trương Bảo A cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng chị N. Thực tế anh D vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010. Con Trương Bảo N1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng anh D. Nên nguyện vọng của chị N là có căn cứ được chấp nhận.

Chị N và anh D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung khi chị Nguyễn Thị Hằng N, anh Trương Tiến D có đơn yêu cầu.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hằng N phải chịu án phí sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hằng N; Chị Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn với anh Trương Tiến D.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D có 02 (hai) con chung là Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010 và Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016. Giao con Trương Bảo A, sinh ngày 12/7/2016 cho chị Nguyễn Thị Hằng N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con Trương Bảo N1, sinh ngày 01/8/2010 cho anh Trương Tiến D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Trương Tiến D có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hằng N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung khi chị Nguyễn Thị Hằng N, anh Trương Tiến D có đơn yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hằng N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị Hằng N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0031072 ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân và gia đình (xin ly hôn)

  • Số bản án: 202/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình (Xin ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm: 1990; ĐKHKTT: Số G V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số E Ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt); - Bị đơn: Anh Trương Tiến D, sinh năm: 1986; ĐKHKTT: Số G V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số E Ngõ H P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger