|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH TỈNH HẬU GIANG Bản án số:202/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 12 - 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Văn Phục;
- Ông Nguyễn Văn Dương.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-HN, ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đào Thị Bé L, sinh năm 1988.
- Bị đơn: Lê Văn A, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở: 37, ấp K, xã M, huyện L, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Đào Thị Bé L (Sau đây gọi chị L) trình bày:
Giữa chị và bị đơn Lê Văn A (Sau đây gọi anh A) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng chị không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã nhau, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm vẫn không đoàn tụ được, nên sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh A.
- - Về con chung: Có hai người con chung tên Lê Văn N (Nam), sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011 và cháu Lê Thị T (Nữ), sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014. Từ khi ly thân đến nay thì cháu Tiên sống với chị, cháu Nguyên sống với chồng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Tiên, đồng ý để chồng chị nuôi cháu Nguyên, chưa yêu cầu cấp dưỡng.
- - Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn Lê Văn A vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 01 tháng 8 năm 2024 cháu Lê Thị Tiên trình bày (Có sự chứng kiến của chị L): Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho mỗi người nuôi một cháu. Chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đặng Thị Bé L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Lê Văn A được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh A qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, đến ngày ngày 28 tháng 01 năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L: Chị và anh A trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ nhưng anh A vắng mặt, chứng tỏ rằng anh cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong khi đó, chị L xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh A và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
[5] Về con chung: Có hai người con chung, xét cháu T đang sống với chị L, cháu N đang sống với anh A từ khi hai người ly thân đến nay. Chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, đồng ý để anh A nuôi cháu N. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao cháu Tiên cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Giao cháu N cho anh A được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh A có yêu cầu khác.
[6] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chưa ai phái cấp cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị L và anh A mà không ai có quyền cản trở.
[7] Về nợ và tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận;
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Đào Thị Bé L và Lê Văn A.
- Về nuôi con chung:
- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Giao cháu Lê Văn N (Nam), sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011 cho Lê Văn A được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh A có yêu cầu khác.
Giao cháu Lê Thị T (Nữ), sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 cho Đào Thị Bé L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh A có yêu cầu khác.
Chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Đào Thị Bé L và Lê Văn A mà không ai có quyền cản trở.
Đào Thị Bé L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006847, ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |
Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Đào Thị Bé L và Lê Văn A. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Văn N (Nam), sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011 cho Lê Văn A được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh A có yêu cầu khác. Giao cháu Lê Thị T (Nữ), sinh ngày 10 tháng 3 năm 2014 cho Đào Thị Bé L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị L, anh A có yêu cầu khác. Chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Đào Thị Bé L và Lê Văn A mà không ai có quyền cản trở. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét
