|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 202/2024/HS-ST
Ngày 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Giảng Trường, ông Nghiêm Đình Chế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 27/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 205/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HS ngày 14/11/2024 đối với:
1. Bị cáo:
1.1 Nguyễn Văn S, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Danh Đ và bà Nguyễn Thị S1; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Tại Bản án số 103/2022/HSST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt S 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 19/9/2023, S chấp hành xong toàn bộ bản án.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 31/2017/HSST ngày 14/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt S 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
1.2 Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị C; Có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 94 ngày 27/9/2017 của Công an huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt H về hành vi xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác; hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng.
Tại Quyết định số 28 ngày 26/6/2021 của Công an xã Đ, huyện Y xử phạt H về hành vi Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình, hình thức phạt tiền 750.000 đồng.
Tại Quyết định số 96A ngày 05/7/2021 của Chủ tịch UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt H về hành vi hủy hoại tài sản của người khác, hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.
Tại Quyết định số 100A/QĐ-UBND ngày 12/7/2021 của Chủ tịch UBND xã Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với H thời hạn 03 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
2. Bị hại:
2.1 Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 2001; Trú tại: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có đơn xin xử vắng mặt.
2.2 Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
3.1 Anh Đào Văn H1, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
3.2 Chị Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1994; Trú tại: Khu V, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
3.3 Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966; Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
4. Người tham gia tố tụng khác:
Ông Nguyễn Đức Đ1 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn H không có việc làm ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên cả hai đã rủ nhau cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu sài. Trong hai ngày 07/7/2024 và 09/7/2024, S và H đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản. Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Khoảng hơn 20 giờ ngày 07/7/2024, tại đoạn đường giãn dân thôn Y, xã Y lối ra đường K, S điều khiển xe mô tô chở H thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị Nguyễn Thị D.
Vụ thứ hai:
Khoảng hơn 20 giờ ngày 09/7/2024, tại đoạn đường thuộc thôn T, xã Y, S điều khiển xe mô tô chở H thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh của chị Nguyễn Thị T1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 57 và 58 ngày 16/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận:
“Chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng có số Imei 1: 356557109020627, số Imei 2: 356557108454934 có giá trị còn lại tại thời điểm định giá là 7.000.000 đồng;
Chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh số Imei: 351732276835298 có giá trị còn lại tại thời điểm định giá là 8.000.000 đồng”.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 205/CT-VKSYP ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo S và H khai nhận: Do không có tiền để ăn tiêu cá nhân nên hai bị cáo đã rủ nhau cướp giật tài sản của người tham gia giao thông trên đường mang đi bán lấy tiền chi tiêu. Ngày 07/7/2024, S điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS 99D1-559.51 (mượn của bà Nguyễn Thị T2 là dì ruột) chở H giật chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị Nguyễn Thị D cầm trên tay ngồi trên xe mô tô lưu thông trên đường. Khi mượn xe S không nói cho bà T2 biết là đi cướp giật tài sản. Sau đó S và H mang điện thoại đến cửa hàng điện thoại “95 Mobile” của anh Đào Văn H1 để bán với giá 1.200.000 đồng. Khi bán S nói điện thoại là của chị gái. Số tiền bán được S và H tiêu sài cá nhân hết. Ngày 09/7/2024, cùng với cách thức trên, S và H đã thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh của chị Nguyễn Thị T1. Sau đó H mang điện thoại đến cửa hàng điện thoại “Nguyễn Công M” của chị Nguyễn Thị Thùy N để bán với giá 2.000.000 đồng. H nói điện thoại là H nhặt được. Số tiền này H tiêu xài một mình hết.
Bị hại là chị Nguyễn Thị D và chị Nguyễn Thị T1 đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đào Văn H1, chị Nguyễn Thị Thùy N đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng, 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh. Khi bán các bị cáo không nói cho anh, chị biết về nguồn gốc 02 chiếc điện thoại là do cướp giật mà có. Anh H1, chị N không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã mua điện thoại.
Bà Nguyễn Thị T2 cho bị cáo S mượn xe mô tô nhưng không biết việc S thực hiện hành vi phạm tội. Bà T2 xin nhận lại chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 99D1-559.51.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bà T2 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 99D1-559.51.
Lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn H không có tiền tiêu sài cá nhân nên đã rủ nhau thực hiện hai vụ cướp giật tài sản vào ngày 07/7/2024 trị giá 7.000.000 đồng và ngày 09/7/2024 trị giá 8.000.000 đồng. Hai bị cáo đã điều khiển xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người đang tham gia giao thông trên đường bằng xe mô tô nên thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Hai bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hai bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo S đã bị xét xử về 2 lần về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác, xúc phạm danh dự nhân phẩm thành viên gia đình, hủy hoại tài sản của người khác và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 3 tháng.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo S đã đến Công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản có giá trị tài sản 7.000.000 đồng và 8.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo S phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
Chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 99D1-559.51 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2 cho bị cáo S mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết việc S sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội. Bà T2 có đơn xin lại tài sản nên cần trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 99D1-559.51 cho bà T2.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Liên quan trong vụ án có anh Đào Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thùy N là những người mua điện thoại của S và H. Anh H1, chị N không biết và S, H cũng không nói cho anh chị biết tài sản là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với anh H1, chị N là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/7/2024.
2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/7/2024.
3. Căn cứ cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyết định tạm giam các bị cáo S, H mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T2 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh BKS 99D1-559.51.
Bị cáo S và H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 202/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S, H cướp giật tài sản
