Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/DS- PT

Ngày: 18/9/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất và di dời tài sản trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2024/TLPT- DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và di dời tài sản trên đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 167/2024/QĐ-PT ngày 31/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 226/2024/QĐ- PT ngày 28/8/2024 giữa:

  • * Nguyên đơn: Ông Lý Đức C, sinh năm 1947

    Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Có mặt

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lý Văn C1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Dương Minh K – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; có đơn đề nghị xx vắng mặt.

  • * Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1976; Có mặt

    Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. UBND huyện S; do ông Ngọc Đức V – Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và môi trường huyện S là người đại diện theo ủy quyền; Vắng mặt.
    2. UBND xã T; do ông Nguyễn Thanh N – Chức danh: Cán bộ địa chính xã là người đại diện theo ủy quyền; Vắng mặt.
    3. Anh La Tiến Q, sinh năm 1996; Vắng mặt
    4. Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1969; Có mặt
    5. Bà Lào Thị T1, sinh năm 1971; Vắng mặt
    6. Bà Lý Thị C2, sinh năm 1954; Vắng mặt
    7. Anh Lý Văn S, sinh năm 1983; Vắng mặt
    8. Anh Lý Văn H, sinh năm 1976; Vắng mặt
    9. Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1979; Vắng mặt
    10. Anh Lý Văn S1, sinh năm 1992; Vắng mặt
    11. Anh Hoàng Chiến C3, sinh năm 1994; Vắng mặt

    Đều cư trú tại: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    1. Anh Lý Văn Đ1, sinh năm 1980; Vắng mặt

    Nơi cư trú: Đ, thôn H, thị trấn N, V, Hưng Yên.

    (Bà C2, anh Đ1, anh Đ, anh S1, anh H, anh S đã ủy quyền cho ông C1; Bà T1, anh C3 đã ủy quyền cho ông L; Anh Q đã ủy quyền cho bà T).

  • Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lý Đức C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lý Văn C1 trình bày:

Năm 1992, Gia đình ông Lý Đức C tiến hành khai hoang một thửa đất ở khu vực rộc khe Khau Ra, thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Năm 1993, ông C đã đắp rộc khe làm ao trữ nước, nuôi trồng thủy sản...một phần diện tích phía dưới bờ ao dài 14m x rộng 9m, diện tích 126m², ông C sử dụng để làm ruộng cấy rau muống. Năm 2008, do có lũ to nên ruộng rau muống bị đất đá vùi lấp, ông C không cấy rau nữa mà chuyển sang trồng cây keo. Diện tích đất này đã được chính quyền địa phương đo đạc để làm bản đồ địa chính của xã từ năm 2010 và đã được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY940528 ngày 03/7/2015.

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Năm 2019, gia đình ông Hoàng Văn L có đất liền kề với thửa đất của ông C đã thuê người dùng máy xúc múc đất lấp đổ vào một phần diện tích đất của ông C để làm lối đi vào thửa đất lâm nghiệp của gia đình ông L. Ông C đã yêu cầu ông L không được lấn chiếm đất nhưng ông L vẫn làm, sau đó ông L đã cho bà T là em gái quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. UBND xã T tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thống nhất được với nhau. Vì vậy, Nay ông C yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc gia đình bà Hoàng Thị T phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 70m² (chiều rộng 5m x chiều dài 14m) và di dời tài sản trên đất cho ông C quản lý, sử dụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Dương Minh K nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn và quan điểm đưa ra.

* Bị đơn bà Hoàng Thị T xác nhận một phần lời khai của bên nguyên đơn tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bà trình bày:

Đất là của bố bà (ông Hoàng Minh T2) được nhà nước giao năm 1988, diện tích 04 ha đất tại thôn S, xã T, gia đình đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào năm 1995, ông C ra chân đồi nghĩa trang N1 thôn Sầy phát phía chân đồi và canh tác ở đó. Năm 1997, ông C có gặp bố bà xin được đắp 1 đầu đập trên để làm ao và bố bà đã đồng ý, khi đắp đập xong diện tích ao của ông C khoảng 300m²; đập được hình thành mặt đập khoảng 3m chiều rộng, chiều dài là 09 m và cũng từ đó phía trên ao là của ông C, phía dưới đập là ao của gia đình bà.

Năm 2010, UBND xã T đã đo đạc lập bản đồ địa chính theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình, từ đó hai gia đình quản lý sử dụng bình thường đến nay không có tranh chấp gì. Năm 2018, anh trai bà là ông Hoàng Văn L có tặng cho bà một phần đất ao để đắp làm đường đi, phần đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngoài ra có anh Hoàng Văn C4 là cháu bà có đổi một phần đất cho bà, phần đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích phần đất có chiều ngang 11,2m, chiều dài về phía dưới 16m (từ đất của ông Lý Đức C qua cây cột điện xuống tiếp giáp với đất của ông L). Bà vẫn quản lý sử dụng từ đó cho đến nay; phần đất ông L tặng cho bà đến nay vẫn chưa cấp giấy chứng nhận QSDĐ, do gia đình bà chưa đề nghị.

Toàn bộ 45,5m² diện tích đất tranh chấp ông C khởi kiện theo như kết quả thẩm định là do bà đang quản lý, canh tác, sử dụng từ năm 2018; giữa bà và ông L cùng với cháu C4 không có vướng mắc gì.

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do nhu cầu đi lại, gia đình ông C có đất liền kề với thửa đất của gia đình bà; Năm 2019, bà đắp đường đi thì ông C cho rằng việc xác định ranh giới không đúng và cho rằng gia đình bà chiếm đất.

Bà xác định diện tích đất ông C khởi kiện yêu cầu bà trả 45,5m²và di dời tài sản trên đất bà không nhất trí trả, thửa đất có nguồn gốc là của gia đình bà là đúng, đất đã được thiết lập, quản lý trên bản đồ đất đai của xã nên ông C khởi kiện là không có căn cứ, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì.

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Ông Hoàng Văn L, bà Lào Thị T1:

Đất là của bố ông bà (ông Hoàng Minh T2) được nhà nước giao năm 1988, diện tích 04 ha đất tại thôn S, xã T, gia đình đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ngoài ra còn khai phá thêm đất hoang.

Vào năm 1995, ông C ra chân đồi nghĩa trang N1 thôn Sầy phát phía chân đồi và canh tác ở đó. Năm 1997, ông C có gặp bố ông bà xin được đắp 1 đầu đập trên để làm ao và bố ông bà đã đồng ý, khi đắp đập xong diện tích ao của ông C khoảng 300m²; đập được hình thành mặt đập khoảng 03m chiều rộng, chiều dài là 09 m và cũng từ đó phía trên ao là của ông C, phía dưới đập là ao của gia đình ông bà.

Năm 2015, gia đình ông bà đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó đến năm 2018 ông bà tặng cho con trai là Hoàng Chiến C3, trong quá trình quản lý canh tác anh C3 đã đổi đất cho bà T một phần. Đối với diện tích đất còn lại chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì năm 2010 UBND xã T đã đo đạc lập bản đồ địa chính theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình, từ đó hai gia đình quản lý sử dụng bình thường đến nay không có tranh chấp gì. Năm 2018 ông bà có tặng cho bà Hoàng Thị T phần đất ao để đắp làm đường đi, diện tích có chiều ngang 11,2m, chiều dài về phía dưới 16m (từ giáp đất của ông Lý Đức C qua cây cột điện xuống tiếp giáp với đất của gia đình). Từ ngày nhận cho đất bà T vẫn quản lý sử dụng từ đó cho đến nay.

Toàn bộ diện tích đất tranh chấp ông C khởi kiện là do bà T đang quản lý, canh tác, sử dụng năm 2018 cho đến nay; giữa gia đình ông bà và bà T đã cho nhau không có vướng mắc gì.

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do nhu cầu đi lại, gia đình ông C có đất liền kề với thửa đất của gia đình bà T. Năm 2019 bà T đắp đường đi thì ông C cho rằng việc xác định ranh giới không đúng và cho rằng gia đình bà T chiếm đất.

Thửa đất do gia đình bố mẹ ông khai phá từ năm 1988, gia đình vẫn quản lý, sử dụng và khai phá thêm từ đó cho đến nay. Ông bà xác định diện tích đất ông C khởi kiện có nguồn gốc là của gia đình ông bà là đúng (Trong đó 01 phần đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 phần chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Thửa đất đã được thiết lập trên bản đồ quản lý đất đai năm 2010 nên ông C khởi kiện là không có căn cứ. Ngoài ra ông bà không có yêu cầu gì khác.

- Bà Lý Thị C2 (Là vợ ông C nguyên đơn): Bà Lý Thị C2 trình bày ý kiến, quan điểm đưa ra như ông Lý Văn C1 trình bày.

- Anh Lý Văn S, anh Lý Văn Đ1, anh Lý Văn H, anh Lý Văn Đ và anh Lý Văn S1 (Là con ông C nguyên đơn): Anh S, anh Đ1, anh H, anh Đ và anh S1 trình bày ý kiến, quan điểm đưa ra như ông Lý Văn C1 trình bày.

- Anh La Tiến Q (Là con bà T bị đơn): Anh La Tiến Q trình bày ý kiến, quan điểm đưa ra như bà Hoàng Thị T trình bày.

- Anh Hoàng Chiến C3 (Là con ông Hoàng Văn L): Anh Hoàng Chiến C3 trình bày ý kiến, quan điểm đưa ra như ông Hoàng Văn L, bà Lào Thị T1 trình bày.

* Quan điểm của UBND xã T:

Đối với diện tích đất tranh chấp 16,5m²đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trước đây là đất rạch khe chưa có ai quản lý, sử dụng, năm 1988 cụ Hoàng Minh T2 đã khai phá quản lý, sử dụng trồng rau và trồng cây keo, gia đình cụ T2 chưa được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1990, cụ Hoàng Minh T2 đã tặng cho ông Hoàng Văn L (ông L là con trai), quá trình quản lý đến năm 2015 ông L đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2018 ông Hoàng Văn L tặng cho con trai là Hoàng Chiến C3 toàn bộ thửa đất, sau khi nhận tặng cho anh C3 đã làm thủ tục chuyển sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 16/7/2019 anh C3 đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR043756, diện tích 3.325,6m²; thuộc thửa đất số 186, tờ bản đồ 43 thôn S, xã T mang tên ông H1 Chiến Công. Ngày 18/8/2019 anh Hoàng Chiến C3 đã đổi một phần đất diện tích 16,5m² cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó không có vướng mắc gì cho đến khi xảy ra tranh chấp.

Đối với diện tích đất tranh chấp 29m²chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Quá trình quản lý, canh tác ông Hoàng Văn L đã khai phá thêm một phần đất; năm 2010 UBND xã T đã đo đạc lập bản đồ địa chính số 43 theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình; gia đình ông L thuộc thửa số 61, gia đình ông C thuộc thửa số 75 thôn S, xã T. Ngày 12/02/2018 ông Hoàng Văn L đã lập văn bản tặng quyền sử dụng đất diện tích 29m² cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp. Diện tích đất tranh chấp 29m² hộ gia đình ông C, gia đình bà T đều chưa được cấp GCNQSDĐ (do có tranh chấp và do các bên chưa đề nghị).

Nguyên nhân tranh chấp do: Vị trí đất của 02 hộ giáp ranh nhau, quá trình quản lý, sử dụng không cắm mốc và ranh giới rõ ràng nên trong quá trình quản lý sử dụng có xảy ra tranh chấp, UBND xã đã hòa giải kết luận diện tích đất tranh chấp là của gia đình bà Hoàng Thị T nhưng ông C không nhất trí.

Đối với diện tích đất tranh chấp bà T đang quản lý đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thuộc quản quản lý, sử dụng hợp pháp của bà T. Đối với diện tích đất tranh chấp bà T đang quản lý chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trường hợp các bên không xảy ra tranh chấp và gia đình bà Hoàng Thị T có đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ thì bà T đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.

UBND xã T đề nghị Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ các bên xuất trình và do Tòa án thu thập để xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật./.

* Quan điểm của UBND huyện S:

- Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 45,5m² giữa ông Lý Đức C với bà Hoàng Thị T như sau:

Trước đây là đất rạch khe chưa có ai quản lý, sử dụng, năm 1988 cụ Hoàng Minh T2 đã khai phá quản lý, sử dụng trồng rau và trồng cây keo, gia đình cụ T2 chưa được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1990, cụ Hoàng Minh T2 đã tặng cho ông Hoàng Văn L (ông L là con trai), quá trình quản lý đến ngày 15/9/2015 ông L đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngoài ra còn một phần đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do gia đình ông L khai phá thêm. Năm 2018 ông Hoàng Văn L tặng cho con trai là Hoàng Chiến C3 toàn bộ thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi nhận tặng cho anh C3 đã làm thủ tục chuyển sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 16/7/2019 anh C3 đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR043756, diện tích 3.325,6m²; thuộc thửa đất số 186, tờ bản đồ 43 thôn S, xã T mang tên ông H1 Chiến Công. Ngày 18/8/2019 anh Hoàng Chiến C3 đã đổi một phần đất diện tích 16,5m² cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp.

Đối với diện tích đất còn lại chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Hoàng Văn L; năm 2010 UBND xã T đã đo đạc lập bản đồ địa chính số 43 theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình; gia đình ông L thuộc thửa số 61, gia đình ông C thuộc thửa số 75 thôn S, xã T. Quá trình quản lý, sử dụng đến ngày 12/02/2018, ông Hoàng Văn L đã lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 29m²cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp; phần đất này đến nay bà T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do có tranh chấp và chưa có đơn đề nghị.

Nguyên nhân tranh chấp: Do vị trí đất của 02 hộ giáp ranh nhau, quá trình quản lý sử dụng không cắm mốc và ranh giới rõ ràng nên trong quá trình quản lý sử dụng có xảy ra tranh chấp, UBND xã đã hòa giải nhưng không thành.

- Quan điểm của UBND huyện:

Đối với diện tích đất tranh chấp 16,5m² gia đình bà T đang quản lý đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất đã được UBND huyện S đã cấp Giấy nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L, anh C3; gia đình đã quản lý, sử dụng ổn định nhiều năm không có vướng mắc gì. Như vậy về việc giao đất, trình tự, thủ tục lập hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hoàng Văn L, ông H1 Chiến Công là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đối với diện tích đất tranh chấp 29m² gia đình bà T đang quản lý chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy tại khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất”. Nguồn gốc đất gia đình bà T đã quản lý, canh tác và sử dụng ổn định nhiều năm không có tranh chấp (đến năm 2019 mới xảy ra tranh chấp), nên gia đình bà T được quyền quản lý, sử dụng là hợp pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật đất đai năm 2013 thì gia đình bà T đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đơn đề nghị và đất không có tranh chấp.

UBND huyện S đề nghị Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp và do Tòa án thu thập xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật./.

* Kết quả xem xét, thẩm định và định giá tài sản:

- Kết quả xem xét, thẩm định: Diện tích đất tranh chấp đoa đạc xác định tại thực địa là 45,5m², gồm các điểm A, B, C, D; Tọa độ: X 476442.6; Y 2354686.4; X 476445.6; Y 2354687.5; X 476452.1; Y 2354675.0; X 476449.1; Y 2354973.9;

Về tài sản trên đất tranh chấp: Gia đình bà T trồng Cây keo, 01 cây có đường kính gốc 16cm và 16 cây có đường kính gốc từ 3 đến 5cm.

- Kết quả định giá tài sản: Về đất giá = 50.000đ/m²; cây keo có đường kính gốc 16cm = 20.000đ/cây, cây keo có đường kính gốc từ 03 – 5cm = 6.000đ/cây.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động đã quyết định:

Áp dụng các Điều 138, 164, 166, 175, 185, 357, 468 của Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 35, Điều 91, 147, 157, 165, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 11, Điều 24, 36, 38, 43 và Điều 73 của Luật Đất đai năm 1993; Khoản 2 Điều 5, điểm b, h khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 10, Điều 105, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Đức C đối với bị đơn bà Hoàng Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh La Tiến Q phải trả diện tích đất 70m²tại thôn S, xã T, huyện S (Trong đó có 45,5m² gia đình bà T đang quản lý) và Di dời tài sản trên đất (gồm 01 cây có đường kính gốc 16cm và 16 cây có đường kính gốc từ 3 đến 5cm).

Độ dài các điểm: A-B = 3,25m, B = 14m, D-C = 3,25m, A = 14m. Tọa độ: X 476442.6; Y 2354686.4; X 476445.6; Y 2354687.5; Χ 476452.1; Y 2354675.0; X 476449.1; Y 2354973.9.

(Có sơ đồ đo vẽ, bản kê độ dài các cạnh và bản kê tọa độ kèm theo).

Ngoài ra bản án còn tuyên về về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 06/6/2024, nguyên đơn Lý Đức C kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bầy vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác để bảo vệ quyền lợi của mình.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông C1 trình bày: Ông C đã sử dụng diện tích đất tranh chấp trước nhà bà T, ông không đồng ý với quan điểm của UBND xã T và UBND huyện S. Ông cho rằng diện tích đất tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C nhưng ông không chỉ được cụ thể.

- Bị đơn bà T trình bày: Diện tích đất tranh chấp bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông C không có căn cứ gì khởi kiện bà.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông L trình bày: Diện tích đất tranh chấp đã được cấp GCNQSDĐ cho bố ông là cụ Hoàng Minh T2 từ năm 1988, đất lúc đầu được cấp lâm bạ. Đến năm 2014 thì bố ông được đổi lâm bạ sang GCNQSDĐ trong đó có 1 phần diện tích đất tranh chấp. Năm 2015, bố ông cho tôi. Năm 2018 ông đổi cho em gái là bà Hoàng Thị T. Khi em gái ông bà T muốn làm đường đi thì nhà ông C không đồng ý.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lý Đức C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Về án phí DSPT: Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Miễn án phí DSPT cho ông Lý Đức C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Xét yêu cầu của ông C yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc gia đình bà Hoàng Thị T phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 70m² (chiều rộng 5m x chiều dài 14m):

Căn cứ lời khai của các bên đương sự, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:

Nguyên đơn ông Lý Đức C khởi kiện yêu cầu gia đình bà Hoàng Thị T phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 70m² (chiều rộng 5m x chiều dài 14m) và di dời tài sản trên đất cho ông C quản lý, sử dụng; về tài sản trên đất Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ do ông C là người trực tiếp chỉ vị trí đất tranh chấp thì diện tích đất tranh chấp giữa ông Lý Đức C và bà Hoàng Thị T là 45m2.

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Phía nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp này là do nguyên đơn tiến hành khai hoang một thửa đất ở khu vực rộc khe Khau Ra, thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang từ năm 1992. Ông C cho rằng thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng qua đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông C cung cấp thì thửa đất gia đình ông C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa đất khác, không phải vị trí đất tranh đất tranh chấp với bà T. Ngoài lời trình bày của mình, phía ông C không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Trong khi đó, phía UBND xã T và UBND huyện S đều khẳng định trong 45m2 đất tranh chấp có 16,5 m2 đã được cấp Giất chứng nhận quyền sử dụng đất và 29 m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:

Đối với diện tích đất tranh chấp 16,5m²đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Trước đây là đất rạch khe chưa có ai quản lý, sử dụng, năm 1988 cụ Hoàng Minh T2 đã khai phá quản lý, sử dụng trồng rau và trồng cây keo, gia đình cụ T2 chưa được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1990 cụ Hoàng Minh T2 đã tặng cho ông Hoàng Văn L (ông L là con trai), quá trình quản lý năm 2015 ông L đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2018, ông Hoàng Văn L tặng cho con trai là Hoàng Chiến C3 toàn bộ thửa đất, sau khi nhận tặng cho anh C3 đã làm thủ tục chuyển sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 16/7/2019 anh C3 đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR043756, diện tích 3.325,6m²; thuộc thửa đất số 186, tờ bản đồ 43 thôn S, xã T mang tên ông H1 Chiến Công. Ngày 18/8/2019 anh Hoàng Chiến C3 đã đổi một phần đất diện tích 16,5m² cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp.

Đối với diện tích đất tranh chấp 29m²chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Quá trình quản lý, canh tác ông Hoàng Văn L đã khai phá thêm; năm 2010 UBND xã T đã đo đạc lập bản đồ địa chính số 43 theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình; gia đình ông L thuộc thửa số 61, gia đình ông C thuộc thửa số 75 thôn S, xã T. Ngày 12/02/2018 ông Hoàng Văn L đã lập văn bản tặng quyền sử dụng đất diện tích 29m² cho bà Hoàng Thị T và bà T đã quản lý, sử dụng từ đó cho đến khi xảy ra tranh chấp.

Nguyên nhân tranh chấp do: Vị trí đất của 02 hộ giáp ranh nhau, quá trình quản lý sử dụng không cắm mốc và ranh giới rõ ràng nên trong quá trình quản lý sử dụng có xảy ra tranh chấp, UBND xã đã hòa giải kết luận đất do gia đình bà Hoàng Thị T nhưng ông C không nhất trí.

Về trình tự thủ tục giao đất và lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của UBND huyện S cho gia đình ông Hoàng Văn L, anh H1 Chiến Công đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đúng theo quy định tại Điều 5, điểm b, h khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 10, Điều 105, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Như vậy, có căn cứ xác định, diện tích 45,5m2 đất tranh chấp hiện do bà T đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc do gia đình cụ T2, ông L khai phá mà có chứ không phải do ông C khai phá như ông C trình bày. Hơn nữa, một phần diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà T, phần còn lại theo quan điểm của UBND huyện S thì nguồn gốc đất gia đình bà T đã quản lý, canh tác và sử dụng ổn định nhiều năm không có tranh chấp (đến năm 2019 mới xảy ra tranh chấp), nên gia đình bà T được quyền quản lý, sử dụng là hợp pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật đất đai năm 2013 thì gia đình bà T đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đơn đề nghị và đất không có tranh chấp.

Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Đức C yêu cầu bị đơn bà Hoàng Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh La Tiến Q phải trả cho gia đình ông Lý Đức C quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 70m², Trong đó có 16,5m²nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR043756, thuộc thửa đất số 186, tờ bản đồ 43 thôn S, xã T mang tên ông Hoàng Chiến C3, 29m²chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong thửa số 61 thuộc tờ bản đồ địa chính số 43 của UBND xã T theo hiện trạng sử dụng đất của các gia đình; cụ thể độ dài các điểm: A-B = 3,25m, B = 14m, D-C = 3,25m, A = 14m; Tọa độ: X 476442.6; Y 2354686.4; X 476445.6; Y 2354687.5; Χ 476452.1; Y 2354675.0; Χ 476449.1; Y 2354973.9. (Có sơ đồ đo vẽ, bản kê độ dài các cạnh và bản kê tọa độ kèm theo). Ngoài ra còn diện tích đất 24,5m²ông C khởi kiện yêu cầu bà T trả nhưng không nằm trong diện tích tranh chấp bà T đang quản lý là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Đối với yêu cầu buộc bị đơn di dời tài sản trên diện tích đất tranh chấp:

Như đã phân tích ở mục [2.1], yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Đức C yêu cầu bị đơn bà Hoàng Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh La Tiến Q phải trả cho gia đình ông Lý Đức C quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 70m² là không có căn cứ chấp nhận. Diện tích tranh chấp 45.5 m2 theo kết quả thẩm định, định giá thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Hoàng Thị T, trên đất có 01 cây có đường kính gốc 16cm và 16 cây có đường kính gốc từ 3 đến 5cm nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Đức C về việc buộc bà Hoàng Thị T phải di dời tài sản trên đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lý Đức C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu của kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Đức C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm đã xử.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo của ông C không được chấp nhận nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. nhưng ông C người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thương binh, có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Đức C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

- Về án phí DSPT : Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Miễn án phí DSPT cho ông Lý Đức C.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Sơn Động;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và di dời tài sản trên đất

  • Số bản án: 202/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và di dời tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp qsd đất giữa ông C và ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger