|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 202/2024/HS-ST Ngày 29 tháng 10 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đào Phương Mai
- Ông Trần Ngọc Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 213/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H - Sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: SỐ A Tổ A, phường P, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số A Đê L, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy K; Con bà Phạm Thị Tuyết L; Vợ Nguyễn Anna T, sinh năm 1997 (Đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/7/2024; Tạm giam ngày 08/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H; Có mặt tại phiên toà;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 02/7/2024, Tổ công tác đặc biệt số 1 - Công an thành phố H làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode BKS: 29E2-971.46 tại khu vực trước số nhà G Quán S, phường T, quận H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự nguyện lấy từ túi quần bên phải giao nộp 01 túi ni lông màu trắng kích thước 4x6cm chứa tinh thể màu trắng, H khai nhận là ma túy “đá” mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa H cùng tang vật, phương tiện về trụ sở Công an phường T giải quyết. Qua xét nghiệm, Nguyễn Đức H dương tính với ma túy.
Thu giữ của Nguyễn Đức H (BL 27-30):
- 01 túi ni lông màu trắng kích thước 4x6cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu xám BKS: 29E2-971.46 có số máy: JK01E0423328, số khung: RLHJK00117NZ146467.
- 01 điện thoại Iphone 15 Pro màu xanh có số Imei 1: 357627947220553, số Imei 2: 357627948754048 kèm sim số: 0936368898.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức H tại địa chỉ số A Đê L, phường T, quận Đ, Hà Nội không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy (BL 36-40).
Tại Bản kết luận giám định số 5059/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận số tang vật thu giữ của Nguyễn Đức H: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,157 gam. (BL 33)
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 01/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá”, H điều khiển xe máy Honda SH mode BKS: 29E1-971.46 đến khu vực đầu ngõ H, phường T, quận Đ, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết (không biết tên tuổi, địa chỉ) 01 túi ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó, H mang ma túy về nhà sử dụng một phần, phần còn lại cất vào túi quần bên phải mục đích để sử dụng.
Khoảng 08 giờ ngày 02/7/2024, H điều khiển xe máy đến trước số nhà G Quán S, quận H, Hà Nội thì bị kiểm tra, bắt giữ như trên. Chiếc điện thoại là của H, sử dụng để liên lạc cá nhân. Chiếc xe máy Honda SH mode màu xám BKS: 29E2-971.46 Huy mượn của mẹ đẻ là bà Phạm Thị Tuyết L.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu xám BKS: 29E2-971.46 có số máy: JK01E0423328, số khung: RLHJK00117NZ146467. Quá trình điều tra xác định chủ đăng kí xe mang tên Phạm Thị Tuyết L. Xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bà L khai mua chiếc xe máy trên năm 2023 làm phương tiện đi lại. Ngày 02/7/2024, bà L cho con trai là Nguyễn Đức H mượn xe để sử dụng, không biết về việc H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội (phù hợp với lời khai của H). Bà L đề nghị xin lại chiếc xe máy trên. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho bà Phạm Thị Tuyết L. Sau khi nhận lại tài sản, bà L không có yêu cầu, đề nghị gì khác (BL 62-63).
Về đối tượng bán ma túy, H khai không biết tên tuổi, địa chỉ, không có số điện thoại liên lạc nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 213/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Đức H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 15 – 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 Pro màu xanh có số Imei 1: 357627947220553, số Imei 2: 357627948754048 kèm 01 sim điện thoại; Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 02/7/2024, Nguyễn Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,157 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực trước cửa số G Quán S, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự công cộng. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi gia đình và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới căn bệnh HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoài ra không có tình tiết tăng nặng nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Tòa không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có thời gian phục vụ trong quân đội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ và cho bị cáo được hưởng mức án thấp của khung hình phạt.
[5] Về các biện pháp tư pháp: Xét thấy, đối với số ma túy thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành + 01 sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro màu xanh có số Imei 1: 357627947220553, số Imei 2: 357627948754048 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.
* Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 phong bì được niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký của bị can Nguyễn Đức H, giám định viên Nguyễn Thị T1, người chứng kiến Phạm Quốc V, cán bộ Nguyễn Quang M và hình dấu đỏ của công an phường T bên trong có: 01 túi ni lông màu trắng kích thước 6x4 cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,157 gam (PC09 – C trích mẫu để giám định 0,021 gam, còn lại 0,136 gam ma tuý loại Methamphetamine).
Theo kết luận giám định 5059/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K1 - Công an T và các biên bản mở, đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định)
+ 01 sim điện thoại đã qua sử dụng, chất lượng hiện trạng không rõ, không rõ số thuê bao do nhà mạng đã khoá;
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H:
01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Pro màu xanh, đã qua sử dụng. Tại thời điểm bàn giao, máy không mở được để kiểm tra bên trong nên không rõ chất lượng, không rõ hiện trạng, không rõ nguồn gốc xuất xứ.
(Theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản kiểm tra điện thoại của Công an phường T ngày 02/7/2024 ghi 01 điện thoại Iphone 15 Pro màu xanh có số Imei 1: 357627947220553, số Imei 2: 35762794875404).
Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 25/10/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |
Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 202/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
