Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/DS-ST

Ngày: 23/10/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
yêu cầu ngừng bán đấu giá tài sản thế chấp"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Văn Lộc

Bà Phạm Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần K;

Địa chỉ trụ sở chính: Số DP, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 2032/QĐ-NHKL-2024 ngày 24/7/2024) (ông T có mặt).

Địa chỉ: Số D, N, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn:

1. Ông Huỳnh Hùa T1, sinh năm: 1973 (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của ông T1: Ông Lương Văn N, sinh năm: 1976 (theo văn bản ủy quyền ngày 15/6/2023) (có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường L, Khóm D, Phường A, Thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C khóm B, Phường V, Thị xã V tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Đ (vắng mặt).

Địa chỉ: Số E H, Phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Phan Thị T2; sinh năm: 1974 (có mặt)

Địa chỉ: Số C khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/9/2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Ngọc T trình bày:

Ông Huỳnh Hùa T1, bà Trần Thị H có vay vốn của Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh S – Phòng G, cụ thể như sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 003/20/HĐTD/2101-5170 ngày 03/01/2020:
    • Số tiền vay: 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
    • Mục đích vay: Bổ sung vốn trồng trọt, chăn nuôi
    • Giải ngân ngày: 03/01/2020
    • Thời hạn vay: 12 tháng, ngày đến hạn 03/01/2021
    • Lãi suất vay là: 13,10%/năm được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Kể từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất cho vay thay đổi 03 tháng 01 lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh cuối kỳ của Ngân hàng K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng thêm 3,80%/năm. Lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại đơn vị (cùng loại hình và phương thức vay).
    • - Lãi suất quá hạn: 150% (gấp 1.5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn.
    • - Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
    • - Hình thức thanh toán: Lãi trả 6 tháng/lần; Gốc trả cuối kỳ.
  2. Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết tại Hợp đồng thế chấp số 074/15/HĐTC-BDS/2101-2922 ngày 05/11/2015 cụ thể:

    Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 368052 do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp ngày 09/10/2014; thửa đất số 39; tờ bản đồ số 69; diện tích 8.865,9m², hình thức sử dụng: riêng: 8.865,9m², chung: không; mục đích sử dụng: đất ở: 200m², đất trồng cây lâu năm: 8.665,9m²; thời hạn sử dụng đất: đất ở: lâu dài, đất trồng cây lâu năm: 15/10/2043; nguồn gốc sử dụng: công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất 200m² (ODT), công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất 8.665,9m² (CLN); tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

    Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng C công chứng ngày 17/11/2020 và tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/11/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã V theo đúng quy định pháp luật.

  3. Quá trình thanh toán nợ:

    Kể từ ngày vay đến nay ông Huỳnh Hùa T1, bà Trần Thị H chưa thanh toán đủ gốc, lãi cho Ngân hàng nên vi phạm Hợp đồng tín dụng.

    Tính đến ngày 23/10/2024 ông Huỳnh Hùa T1, bà Trần Thị H còn nợ Ngân hàng K số tiền là 367.789.165 đồng (trong đó: Tiền gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 13.207.671 đồng, lãi chậm trả: 5.026.152 đồng, lãi quá hạn: 149.555.324 đồng).

Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K toàn bộ số tiền 367.789.165 đồng (trong đó: Tiền gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 13.207.671 đồng, lãi chậm trả: 5.026.152 đồng, lãi quá hạn: 149.555.324 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 003/20/HĐTD/2101-5170 ngày 03/01/2020, kể từ ngày 24/10/2024 cho đến khi ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K.

Trường hợp ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tại đơn khởi kiện (phản tố) ngày 15/6/2023 của bị đơn ông Huỳnh Hùa T1, cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Hùa T1 – ông Lương Văn N trình bày:

Vào năm 2015 ông T1 và vợ là bà Trần Thị H có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với Ngân hàng thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G, Hợp đồng số 074/15/HĐTC-BĐS/2101-2922 ký ngày 05/11/2015 để vay với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H tại thừa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích đất 8.865,9m, địa chỉ thửa đất: Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, loại đất: đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm được Ủy ban nhân dân thị xã V ký ngày 09/10/2014 số vào sổ GCN CH91099, mục đích vay tiền là để trồng hoa màu, chăn nuôi.

Sau khi nhận tiền vay của ngân hàng ông T1 về sử dụng đúng mục đích và thanh toán cho ngân hàng K đến năm 2020 ông Huỳnh Hùa T1 và vợ là bà Trần Thị H1 có ký hợp đồng tín dụng từng lần, hợp đồng số 003/20/HĐTD 2101-5170 với Ngân hàng thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - phòng G vào ngày 03/01/2020 để vay tiếp số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) mục đích vay là đề trồng hoa màu và chăn nuôi với việc tiếp tục thế chấp quyền sử dụng đất đã thế chấp vào năm 2015 như trên và phía Ngân hàng thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G có giữ thêm 02 quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 11 tờ bản đồ số 69 diện tích là 1.132,4m2 loại đất trồng cây lâu năm và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã V đính chính nội dung thay đổi cơ sở pháp lý vào ngày 21/05/2015 và thửa đất số 1 tờ bản đồ số 69 diện tích 1.306,1m2 loại đất trồng cây lâu năm được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất địa chính thay đổi về cơ sở pháp lý vào ngày 21/05/2015.

Sau khi được Ngân hàng thương mại cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G giải ngân số tiền vay 200.000.000 đồng nói trên thì ông T1 đóng lãi hàng tháng được khoảng 3 - 4 tháng thì không có khả năng đóng vì ông Huỳnh Hùa T1 và vợ là bà Trần Thị H mâu thuẫn và không có khoản thu nhập để đóng lãi cho ngân hàng và trong thời gian không đóng lãi ông T1 và bà H đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn ra Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng và được Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 201/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/012/2020 với nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H thống nhất thừa nhận mối quan hệ chung sống giữa ông T1 và bà H không phải là quan hệ vợ chồng vì không có đăng ký kết hôn với nhau.

Sau khi nhận quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đơn sự nói trên của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thì bà Trần Thị H bỏ nhà đi hiện không rõ địa chỉ nơi bà H sinh sống.

Sau khi Tòa án có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đơn sự thì Ngân hàng thương mại Cổ phần K - Chi nhánh S - Phòng G có yêu cầu ông T1 thanh toán khoản vay và lãi trong hạn và lãi quá hạn đối với khoản vay 200.000.000 đồng nói trên nhưng ông T1 cũng có trình bày về hoàn cảnh gia đình và làm ăn không thuận lợi và hứa là sẽ tự bán tài sản để trả nợ cho ngân hàng nhưng phía ngân hàng không đồng ý. Sau đó ngân hàng ra Thông báo số 04/TBPGDVC ngày 06/01/2022 về việc yêu cầu tự nguyện bàn giao tài sản gửi qua đường bưu điện nhưng ông T1 không đồng ý tự nguyện giao tài sản. Sau đó ngân hàng tiếp tục ra Quyết định số 248A/QĐNHKL ngày 14/01/2023 về việc đưa tài sản ra bán đấu giá để thu hồi nợ và cũng trong ngày 14/01/2023 ngân hàng ra Thông báo số 76/TBNHKL về việc đưa tài sản đảm bảo ra bán đấu giá và đến ngày 14/03/2023 Công ty Đ ra Thông báo đấu giá tài sản số 210/23/TBĐG và đến ngày 02/06/2023 ngân hàng ra Quyết định số 185/QĐNHKL về việc giảm giá tài sản lần 1 và bán đấu giá tài sản lần 2 và cùng ngày 02/06/2023 ngân hàng ra Thông báo số 1910/TBNHKL về việc đưa tài sản bảo đảm ra bán đấu giá lần 2 và ngày 02/06/2023 công ty Đ ra Thông báo số 64/23/TBĐGCT để thông báo đấu giá tài sản.

Tất cả các văn bản giấy tờ nói trên của Công ty Đ đều gởi qua đường bưu điện và ông T1 không đồng ý giao tài sản thế chấp đối với thửa đất nói trên nhưng phía ngân hàng vẫn tiến hành định giá tài sản không có sự đồng ý của bà Trần Thị H và đưa tài sản ra bán đấu giá mà không có sự đồng ý của ông T1 cũng như trong quá trình thẩm định giá tài sản đối với thửa đất thế chấp nói trên phía ngân hàng cũng không có gửi chứng thư thẩm định giá cho ông T1 biết.

Việc tự ý đưa tài sản thế chấp của ông T1 để bán đấu giá là chưa đúng bởi vì trong quá trình vay vốn đến khi ngân hàng đưa tài sản ra phát mãi bán đấu giá, phía ngân hàng chưa có mời ông T1 để đối chiếu nợ theo quy định. Việc bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của ông T1 thế chấp nói trên là trái với quy định của pháp luật về giao dịch dân sự cũng như việc đấu giá tài sản của công ty Đ là trái với quy định của luật đấu giá và trong quá trình thu giữ tài sản của ngân hàng để bán đấu giá tài sản chưa được sự đồng ý của bà Trần Thị H đứng tên chung quyền sử dụng đất và là người trực tiếp ký hợp đồng với phía ngân hàng do đó việc bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất thế chấp nói trên ảnh hưởng đến quyền lợi cũng như quyền định đoạt tài sản của ông T1 và bà H.

Nay ông Huỳnh Hùa T1 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu giải quyết như sau:

Buộc ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp để xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật, tại thừa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m² được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất vào ngày 09/10/2014.

Ông Huỳnh Hùa T1 thống nhất thừa nhận (tính đến ngày 23/10/2024) còn nợ Ngân hàng thương mại Cổ phần K tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 13.207.671 đồng và một phần nợ lãi quá hạn, ông không đồng ý với yêu cầu của ngân hàng yêu cầu đối với một phần lãi quá hạn tính kể từ ngày ngân hàng đưa tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m² ra bán đấu giá và lãi chậm trả vì kể từ ngày ngân hàng đưa tài sản là quyền sử dụng đất thế chấp nêu trên ra bán đấu giá gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 nên ông không đồng ý thanh toán một phần lãi quá hạn và lãi chậm trả nêu trên. Tại phiên tòa, ông Huỳnh Hùa T1 cũng thống nhất không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét (rút yêu cầu) về việc buộc ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m², đất tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H vào ngày 09/10/2014 do ngân hàng không tiếp tục thực hiện theo thủ tục bán đấu giá tài sản thế chấp.

Đối với bị đơn bà Trần Thị H: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần K nhưng bà H không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà H và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đối với Công ty Đ: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần K nhưng phía công ty không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho đương sự và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T2 trình bày: Bà là vợ sau của ông Huỳnh Hùa T1, có đăng ký kết hôn và sống chung với ông T1 từ năm 2023 đến nay. Đối với khoản vay của ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H tại ngân hàng thương mại Cổ phần K thì bà không có ý kiến gì. Hiện bà chỉ ở chung trong căn nhà với ông T1 còn tài sản là phần đất thế chấp và tài sản gắn liền với đất không phải là của bà, bà cũng không có ý kiến gì đối với tài sản này.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn Huỳnh Hùa T1 đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 liên đới cùng bà Trần Thị H trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 367.789.165 đồng (trong đó: Tiền gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 13.207.671 đồng, lãi chậm trả: 5.026.152 đồng, lãi quá hạn: 149.555.324 đồng) và ông T1, bà H phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đình chỉ yêu cầu của ông Huỳnh Hùa T1 về việc buộc ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m², đất tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H vào ngày 09/10/2014. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H có địa chỉ tại khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Tại phiên tòa, ông Huỳnh Hùa T1 rút yêu cầu (phản tố) về việc buộc ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m², đất tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H vào ngày 09/10/2014. Việc rút yêu cầu này của ông Huỳnh Hùa T1 là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu của ông Huỳnh Hùa T1 về việc buộc ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m², đất tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H vào ngày 09/10/2014.

[4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H tại Hợp đồng tín dụng số 003/20/HĐTD/2101-5170 ngày 03/01/2020 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 13,10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông T1, bà bà H chỉ thanh toán được một phần nợ lãi và không tiếp tục thanh toán cho đến nay và còn nợ lại tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H thanh toán nợ nhưng ông T1, bà H không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên việc ông Huỳnh Hùa T1 cho rằng ngân hàng đưa tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m² tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng ra bán đấu giá gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, ông không đồng ý thanh toán một phần lãi quá hạn tính kể từ ngày ngân hàng đưa tài sản thế chấp ra bán đấu giá và lãi chậm trả là không có căn cứ. Mặt khác, tại phiên tòa, phía ngân hàng khẳng định, ngân hàng sẽ không thực hiện thủ tục bán đấu giá tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên. Đồng thời, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên kể từ khi ông T1 vay ngân hàng đến nay vẫn do ông T1 đang quản lý, sử dụng (không bị bán đấu giá). Do đó, Ngân hàng thương mại Cổ phần K yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông T1, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 23/10/2024 số tiền là 367.789.165 đồng (trong đó: Tiền gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 13.207.671 đồng, lãi chậm trả: 5.026.152 đồng, lãi quá hạn: 149.555.324 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 24/10/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 003/20/HĐTD/2101-5170 ngày 03/01/2020 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K, ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 074/15/HĐTC-BDS/2101-2922 ngày 05/11/2015, dùng tài sản là thừa số 39, tờ bản đồ số 69, tọa lạc khóm B, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H ngày 09/10/2014 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2024 đối với thửa đất thế chấp nêu trên hiện có tồn tại 01 căn nhà của ông Huỳnh Hùa T1 có kết cấu: Mái lợp tôn, đòn tay tầm vong + gỗ dầu, vách tôn + thiếc, cột đúc + cây gỗ dầu, nền đất, của gỗ lá sách, chiều ngang phía trước là 7,56m, chiều dài bên hông (hướng tây) là 9,2m + 2,45m + 5,4m, chiều dài bên hông (hướng đông) là 12,65m, chiều ngang phía sau là 9,25m. Đồng thời bên hông nhà có 02 căn chái: Căn chái số 01 có kết cấu: Vách xây gạch, mái lợp tôn, đòn tay tầm vong, nền đất, chiều ngang 1,3m, chiều dài 2,53m; căn chái số 02 có kết cấu: Vách xây gạch, mái lợp tôn, đòn tay tầm vong, nền đất, chiều ngang 1,3m, chiều dài 2,53m. Toàn bộ thửa đất nêu trên do ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp Đồng thời, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0074/15/HĐTC-BDS/2101-2922 ngày 05/11/2015, được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H.

    Buộc các bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 367.789.165 đồng (trong đó: Tiền gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 13.207.671 đồng, lãi chậm trả: 5.026.152 đồng, lãi quá hạn: 149.555.324 đồng). Ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 003/20/HĐTD/2101-5170 ngày 03/01/2020 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và ông Huỳnh Hùa T1, bà Trần Thị H cùng với bà Phan Thị T2 có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 39 (mục đích sử dụng: Đất ở 200m²; đất trồng cây lâu năm 8.665,9m²), diện tích 8.865,9m² thuộc tờ bản đồ số 69 tọa lạc khóm khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 368052 do Ủy ban nhân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H ngày 09/10/2014 và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà của ông Huỳnh Hùa T1 có kết cấu: Mái lợp tôn, đòn tay tầm vong + gỗ dầu, vách tôn + thiếc, cột đúc + cây gỗ dầu, nền đất, của gỗ lá sách, chiều ngang phía trước là 7,56m, chiều dài bên hông (hướng tây) là 9,2m + 2,45m + 5,4m, chiều dài bên hông (hướng đông) là 12,65m, chiều ngang phía sau là 9,25m. Đồng thời bên hông nhà có 02 căn chái: Căn chái số 01 có kết cấu: Vách xây gạch, mái lợp tôn, đòn tay tầm vong, nền đất, chiều ngang 1,3m, chiều dài 2,53m; căn chái số 02 có kết cấu: Vách xây gạch, mái lợp tôn, đòn tay tầm vong, nền đất, chiều ngang 1,3m, chiều dài 2,53m để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 074/15/HĐTC-BDS/2101-2922 ngày 05/11/2015.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng thương mại Cổ phần K phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.

  3. Đình chỉ yêu cầu của ông Huỳnh Hùa T1 về việc buộc Ngân hàng thương mại Cổ phần K ngừng bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 69, diện tích 8.865,9m², đất tọa lạc khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H vào ngày 09/10/2014.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    • 4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • Bị đơn ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H liên đới chịu 18.389.458 đồng.
      • Hoàn trả cho ông Huỳnh Hùa T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008510 ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
      • Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.025.675 đồng theo biên lai thu số 0003079 ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    • 4.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần K đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Huỳnh Hùa T1 và bà Trần Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần K số tiền 750.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/DS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu ngừng bán đấu giá tài sản thế chấp

  • Số bản án: 202/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu ngừng bán đấu giá tài sản thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger