|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 202/2024/HS-ST
Ngày: 26-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Huệ Anh Đài
Ông Trần Thanh Truyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:
Bùi Trần L, sinh năm 1992; tại Ninh Thuận.
Nơi thường trú: Thôn P, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi T, sinh năm 1954 và bà Bùi Thị L1, sinh năm 1958; có vợ tên Phan Như V; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 19/6/2007, bị Công an phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” với hình thức cảnh cáo.
- Ngày 18/7/2024, bị Công an phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Anh Tôn Văn T1, sinh năm 1982 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Phan Như V, sinh năm 1997 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. - - Anh Lê Ngọc Y, sinh năm 1973 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. - - Anh Bùi Sao Đ1, sinh năm 1984 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 18/7/2024, sau khi đã sử dụng ma túy xong, Bùi Trần L điều khiển xe mô tô, hiệu Honda, màu đen, biển số: 85AA-022.21 chuẩn bị chạy đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để thăm chị Phan Như V (Sinh năm: 1997, trú tại: Thôn P, phường Đ, TP . - T là vợ của L). Trên đường đi, L ghé vào trụ bán nước tự động ở công viên phía sau tượng đài Quảng trường 16/4, thuộc khu phố A, phường M, TP . - T để mua nước uống thì nhìn thấy có 01 xe ô tô, hiệu Toyota Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số: 85E-000.67 của anh Tôn Văn T1 (Sinh năm: 1982, trú tại: Khu phố H, phường T, TP . - T) đang đỗ ở gần đó, không có người trông coi nên L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô của anh T1, với mục đích dùng làm phương tiện đi lại, đồng thời để cho mọi người biết L là tài xế xe Taxi. Lịnh dừng xe mô tô, đi bộ đến vị trí xe ô tô, hiệu Toyota Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số: 85E-000.67, có cắm sẵn chìa khóa trên xe, L mở cửa xe ô tô nổ máy điều khiển xe ô tô chạy đi theo đường A đến đường Y (H phường Đ), chạy được một đoạn Lịnh quay đầu xe lại. Khi nhìn thấy L lấy xe ô tô, anh T1 truy hô, đuổi theo nhưng không kịp, anh T1 đã thuê xe ôm chở đi tìm. Khi đến đường N thì anh T1 nhìn thấy xe ô tô, hiệu Toyota Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số: 85E-000.67 đang dừng ở cây xăng nên anh T1 giữ Lịnh lại, trình báo cho Công an phường M đến đưa L về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình (Bút lục số: 19-27, 65-66, 89-90).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P - T, kết luận: 01 xe ô tô hiệu Toyota, loại Vios, sản xuất năm 2022, hiện nay không còn sản xuất mới trên thị trường. Xe ô tô hiệu Toyota, loại Vios, số khung: RL4B28F31NS173055, số máy: 2NRX962556, mua tháng 12/2022, tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 18/7/2024, có trị giá là 300.000.000 đồng (Bút lục số: 43).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số 173/CT-VKSPRTC ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Bùi Trần L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Trần L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Trần L từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo có cơ hội chăm lo gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai trong vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 18/7/2024, tại khu phố A, phường M, TP . - T, Bùi Trần L đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe ô tô, hiệu Toyota Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số: 85E-000.67 của anh Tôn Văn T1, trị giá 300.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 173/CT-VKSPRTC ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-T truy tố bị cáo Bùi Trần L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; do đó cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bùi Trần L có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 19/6/2007, bị Công an phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” với hình thức cảnh cáo; ngày 18/7/2024, bị Công an phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, đồng thời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa, rèn luyện bản thân.
[6] Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô, hiệu Toyota Vios 1.5E-MT, màu trắng, biển số: 85E-000.67, thuộc quyền sở của anh Tôn Văn T1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T1 là có căn cứ.
- Đối với 01 mô tô, hiệu Honda, màu đen, biển số: 85AA-022.21, thuộc quyền sở của anh Lê Ngọc Y cho anh Bùi Sao Đ1 mượn. Sau đó, anh Đ1 đã cho L mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. Anh Y, anh Đ1 không biết việc L sử dụng xe trên để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Y là có căn cứ.
- Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Oppo A31, màu xanh ngọc của chị Phan Như V và 01 điện thoại di động, hiệu S J3 Pro, màu đen của Bùi Trần L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V là có căn cứ.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được gia đình bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét chấp nhận.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trần L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trần L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/7/2024).
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Trần L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Phan Như V), quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/9/2024. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Lê Ngọc Y, anh Bùi Sao Đ1) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 202/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Trần L phạm tội Trộm cắp tài sản
