|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 202/2024/DS-ST; Ngày: 26 - 9 - 2024. Về việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoa;
- Ông Đặng Văn Núi;
– Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 174/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: số A, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q – chức vụ Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C (theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019);
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Trọng N – chức vụ Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C (theo Giấy ủy quyền số 156/UQ-PGD ngày 24/7/2024);
Địa chỉ: đường N, khu phố E, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thành P – sinh năm 1986;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, Tỉnh Tiền Giang;
(Ông N có mặt, ông P vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Vũ Trọng N trình bày:
Ngày 23/6/2020, Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C (gọi tắt là Ngân hàng) có phê duyệt cho hộ ông Nguyễn Thành P vay theo 02 hợp đồng như sau:
Hợp đồng mã món vay 6600000718266386, số tiền vay 20.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay để cải tạo công trình nước sạch, công trình vệ sinh thuộc Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; thời hạn vay 05 năm, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 23/6/2025. Theo hợp đồng, thỏa thuận 06 tháng trả nợ gốc 01 lần là 2.200.000 đồng, kỳ cuối cùng trả 2.400.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 23/7/2020; nhưng đến nay hộ ông Nguyễn Thành P chưa thực hiện trả vốn gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng.
Hợp đồng mã món vay 6600000718265533 số tiền vay 50.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay chăn nuôi bò sinh sản thuộc Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn; thời hạn vay 05 năm, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 23/6/2025. Theo hợp đồng, thỏa thuận 12 tháng trả nợ gốc 01 lần là 10.000.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 23/7/2020; nhưng đến nay hộ ông Nguyễn Thành P chưa thực hiện trả vốn gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng tín dụng số 6600000718266386 và số 6600000718265533 cùng ngày 23/6/2020 với ông P. Yêu cầu hộ ông P hoàn trả khoản nợ gốc của 02 hợp đồng là 70.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 14/6/2024 của hai hợp đồng là 18.300.000 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày Tòa xét xử đến ngày ông P trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng.
* Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Nguyễn Thành P trình bày:
Ông Nguyễn Thành P thừa nhận có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C theo 02 hợp đồng vay với tổng số tiền vốn gốc là 70.000.000 đồng, đến nay ông chưa trả được vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng. Ông thống nhất đến ngày 04/9/2024 ông còn nợ Ngân hàng 70.000.000 đồng tiền gốc và 18.515.736 đồng tiền lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và yêu cầu trả tiền, ông cũng đồng ý, nhưng xin trả dần số nợ lãi mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ lãi thì sẽ trả nợ gốc làm một lần.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện nguyên đơn ông Vũ Trọng N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chấm dứt 02 hợp đồng tín dụng số 6600000718266386 và số 6600000718265533 cùng ngày 23/6/2020 với ông P. Yêu cầu ông P hoàn trả khoản nợ gốc của 02 hợp đồng là 70.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử 26/9/2024 của hai hợp đồng là 18.878.203 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày tiếp theo ngày xử đến ngày ông P trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng.
- Bị đơn ông Nguyễn Thành P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua xem xét lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thành P trả số tiền vốn, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (thời điểm ký kết hợp đồng), Bộ luật Dân sự cùng các quy định pháp luật khác có liên quan. Bị đơn cư trú tại xã T, huyện T, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thành P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Ông Nguyễn Thành P mở sổ vay vốn và ký hợp đồng tín dụng là hai Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay vào ngày 23/6/2020 với mã món vay số 6600000718266386, để vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay để cải tạo công trình nước sạch, công trình vệ sinh thuộc Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; và mã món vay 6600000718265533, để vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay chăn nuôi bò sinh sản thuộc Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn. Hợp đồng này do nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận ký kết bởi những người có thẩm quyền, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện khi giao kết hợp đồng, hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 5 về Phạm vi cho vay của Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng. Nên xác định hợp đồng tín dụng này hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết.
[3.2] Ông Nguyễn Thành P thừa nhận đã nhận đủ số tiền vay của 02 hợp đồng là 70.000.000 đồng, nhưng do làm ăn thua lỗ, nên chưa trả được vốn, lãi kỳ nào cho Ngân hàng theo thỏa thuận; là vi phạm thỏa thuận tại điểm c, tiểu mục 3.2, mục 3 về quyền và nghĩa vụ của người vay tại sổ vay vốn của Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, ông P cũng đồng ý nhưng không có tiền trả nợ. Ngân hàng yêu cầu trả hết số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 26/9/2024 là 88.878.203 đồng, đồng thời yêu cầu ông P tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh từ sau ngày xét xử 27/9/2024 đến khi hết nợ theo hai Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay cùng ngày 23/6/2020 với mã món vay số 6600000718266386, và mã món vay 6600000718265533 là phù hợp quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: Ngân hàng yêu cầu ông P trả hết số tiền gốc 70.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 18.878.203 đồng, tổng cộng là 88.878.203 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Ông Nguyễn Thành P xin trả dần số nợ lãi mỗi tháng 2.000.000 đồng, khi hết nợ lãi, ông sẽ trả ngay số nợ gốc. Xét ông P đã vi phạm thỏa thuận trả lãi là trả vốn gốc theo thỏa thuận trong hợp đồng, nên cần buộc ông P trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi như Ngân hàng yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ; nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.
- Buộc ông Nguyễn Thành P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C xã hội tiền vốn và lãi tính đến ngày 26/9/2024 là 88.878.203 đồng (tám mươi tám triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm lẻ ba đồng), trong đó vốn gốc 70.000.000 đồng, tiền lãi 18.878.203 đồng. Thực hiện trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Thành P còn phải tiếp tục trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo hợp đồng mã món vay số 6600000718266386, và mã món vay 6600000718265533 cùng ngày 23/6/2020. Trường hợp có điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay; thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành P phải chịu 4.443.900 đồng (bốn triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Quân |
Bản án số 202/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 202/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
