Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 202/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23/9/2024

V/v “tranh chấp xin ly hôn, con chung".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN KIM NGỌC .

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông HUỲNH VĂN HOÀN

NGUYỄN THỊ KIM HẠNH

- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN TRẦN HỒNG NHUNG – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện VKSND huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông PHẠM TRUNG T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 392/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N năm 2002 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Chí N1, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 13/5/2024 và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị N2 trình bày: chị N và anh Nguyễn Chí N1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, anh N1đánh đập chị, vợ chồng đã ly thân từ đầu tháng 3 năm 2023 cho đến nay.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Chí T1 sinh ngày 18/6/2020, Nguyễn Ngọc B T2sinh ngày 23/10/2022 hiện cháu T1đang sống với anh N1, cháu T2đang sống với chị N.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Nguyễn Thị N2 xin ly hôn anh Nguyễn Chí N1, chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Ngọc B T2giao cháu Nguyễn Chí T1 cho anh N1tiếp tục nuôi dưỡng, chị và anh N1không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn anh Nguyễn Chí N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự và không có ý kiến kiến nghị gì.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy, chị Nguyễn Thị N3 anh Nguyễn Chí N4 lập quan hệ vợ chồng từ năm 2019, có đăng ký kết hôn, do bất đồng quan điểm sống, chị N5 ly hôn, anh N1 cố tình vắng mặt, cho thấy chị N6 N1không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ; Về con chung, chị N7 cầu tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Ngọc B T2sinh ngày 23/10/2022, giao cháu Nguyễn Chí T1sinh ngày 18/6/2020 đang sống với anh N1cho anh N1nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con, hiên nay cháu T1, cháu T2còn nhỏ, bị đơn anh N1vắng mặt nhưng theo biên bản xác minh ngày 09/8/2024 của Tòa án thì cháu Tldo anh N1nuôi dưỡng nên yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn anh Nguyễn C N1 cư trú: Ấp H, huyện C, tỉnh Tiền GiangDo đó, tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn anh Nguyễn Chí N1 nhưng anh vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N2 trình bày, chị và anh Nguyễn Chí N1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 47 vào ngày 17/9/2020 tại Ủy ban nhân dân phường A, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, vợ chồng đã ly thân từ đầu tháng 3 năm 2023 đến nay. Còn bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N3 vắng mặt không có lý do. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay chị N, anh N1 không còn quan tâm nhau nữa, tình cảm vợ chồng thật sự không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa chị N cương quyết xin ly hôn, do đó căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh N1 là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị N3 anh N1 có 02 con chung tên Nguyễn Chí T1sinh ngày 18/6/2020, Nguyễn Ngọc B T2sinh ngày 23/10/2022 hai cháu hiện nay còn nhỏ. Tại phiên Tòa chị N trình bày, từ khi ly thân đến nay cháu T1 do anh N1 nuôi dưỡng, cháu T2do chị nuôi dưỡng, anh N1 vắng mặt không lý do, tuy nhiên theo biên bản xác minh ngày 09/8/2024 của Tòa án, cháu T1 hiện nay anh N1nuôi dưỡng, do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý cũng như đảm bảo cuộc sống và sự phát triển bình thường của cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Chí T2 anh N1 tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ngọc B T2cho chị Ntiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị N7 cầu tiếp tục nuôi cháu T2giao cháu Tlcho anh N1tiếp tục nuôi dưỡng, chị và anh N1không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Còn anh N1đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung của anh và chị N8 anh không có văn bản trình bày ý kiến và cố tình vắng mặt, do đó việc phân chia trách nhiệm mỗi người nuôi một con chung không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp nên yêu cầu của chị N9 Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N2 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N2 được ly hôn với anh Nguyễn Chí N1.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí T3 ngày 18/6/2020 cho anh N1nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Ngọc B T2 sinh ngày 23/10/2022 cho chị N nuôi dưỡng.

    Chị N6 N1 được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.

  3. Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Nanh Nguyễn Chí N10 phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N6 N1không có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N2 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002930 ngày 15/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy nên thi hành xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - CCTHADS huyện Cai Lậy;
  • - UBND phường 1, TX. Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Kim Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, con chung

  • Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa N và N1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger