Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/HSST

Ngày: 09/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân.

2. Bà Mai Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 204/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐST-HS ngày 19/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn N; Tên gọi khác: không có.

Giới tính: N; Sinh năm: 1987; tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ĐKHKTT: tổ G, ấp G, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: không.

Cha: Phan Xuân Q, sinh năm: 1958; Mẹ: Lê Thị G, sinh năm: 1956.

Anh, chị, em ruột: 03 người (kể cả bị cáo)

Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Ngày 29/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên phạt 3 năm tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 122/2021/HSST; chấp hành án tại trại giam M đến ngày 02/03/2024 chấp hành xong. (Chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

+ Ngày 24/7/2014, huyện C tuyên phạt 07 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 149/HSST; chấp hành án tại trại giam H đến ngày 25/01/2015 chấp hành xong. (Đã xóa án tích)

+ Ngày 01/12/2016, bị huyện C tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 271; chấp hành án tại trại giam H đến ngày 24/8/2017 chấp hành xong. (đã xóa án tích)

+ Ngày 29/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1995; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Trần Văn T, sinh năm: 1957; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ H, ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Trần Văn L, sinh năm: 1989; (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ H, ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 27/03/2024, Nam từ nhà đi bộ tìm tài sản không có người trong giữ để trộm. Khi Phan Văn N đi trên đường bờ kênh đoạn thuộc Tổ A, ấp F, xã B, huyện C thì Phan Văn N thấy chòi của anh Nguyễn Văn N1 đang sáng đèn. Phan Văn N đến đứng phía bên hông chòi nhìn qua khe hở của vách ngăn thấy trên bàn trong chòi cạnh cửa vào có để 01 ví da nam màu nâu nên nảy sinh ý định lấy trộm. Phan Văn N để đôi dép nhựa màu xanh đang mang ở phía sau chòi, cạnh hàng rào, rồi đi bộ lại gần hông chòi để quan sát xem có ai bên trong hay không. N thấy Nguyễn Văn N1 đang nghe điện thoại cạnh cửa chòi nên N1 tiếp tục đứng bên ngoài theo dõi. N1 thấy Nguyễn Văn N1 nghe điện thoại xong và để điện thoại trên bàn cạnh ví da sau đó đi ra ngoài. Khi Nguyễn Văn N1 vừa đi qua khỏi cầu cây gần đó để qua bờ kênh cắt rau nên N1 lẻn vào chòi dùng tay phải cầm ví da, tay trái cầm điện thoại, rồi chạy ra phía sau chòi tẩu thoát.

Về đến nhà, N1 ngồi trong phòng lấy ví da kiểm tra bên trong có số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và điện thoại Nam vừa trộm được có nhãn hiệu OPPO màu đen, bên khe sim có 02 sim (màn hình điện thoại không khóa mật khẩu). N1 lấy 02 sim điện thoại này ra bếp phía sau nhà đốt cháy, còn điện thoại N1 không xóa gì bên trong.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, N1 đi bộ đến quán cà phê của Trần Văn L (sinh năm: 1989, nơi thường trú: Tổ H, ấp G, xã B, huyện C) để uống cà phê và gặp L bán điện thoại Nam vừa trộm được cho L với giá 500.000 đồng. N1 không nói cho L biết đây là điện thoại vừa trộm. Sau đó, N1 đi về nhà.

Đến khoảng 11 giờ ngày 28/03/2024, N1 lấy ví da trộm được đem đến quán cà phê của L và bán cho ông Trần Văn T giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Ông T không biết chiếc ví do N1 phạm tội mà có. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N1 sử dụng tổng cộng 2.400.000đ (trong đó có 1.800.000đ tiền trong ví, tiền bán điện thoại, tiền bán ví da trộm được cùng bạn uống bia tại quán ốc (N1 không nhớ rõ tên) thuộc xã Đ, huyện H) và trả tiền hết.

Đến khoảng 08 giờ 30 ngày 03/4/2024, Phan Văn N đang ở nhà của N thì bị Công an xã B, huyện C, TP. đưa về điều tra làm rõ.

Kết quả định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS, ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu đen có giá trị 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) và 01 bóp da nam màu nâu có giá trị 50.000 đồng. Tổng giá trị là 1.450.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có dòng chữ BORN THIS WAY, 01 nón kết nam, loại nón có mũ lưỡi trai, màu đen. (Phan Văn N giao nộp, là trang phục khi phạm tội).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11, màu đen, số Imeil 867143064179773. Đây là điện thoại của Nguyễn Văn N1 (Do Trần Văn L giao nộp.).

- 01 (một) bóp da màu nâu. Đây là tài sản của Nguyễn Văn N1 (ông Trần Văn T giao nộp).

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập Kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bị cáo trình bày: Đối với số tiền thu lợi bất chính, bị cáo đồng ý nộp lại.

Tại bản cáo trạng số 201/CT-VKSCC ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Phan Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể: Khoảng 20 giờ 30 ngày 27/03/2024, tại đường bờ kênh đoạn thuộc Tổ A, ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Văn N đã lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu đen có giá trị 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), 01 bóp da nam màu nâu có giá trị 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) và 1.800.000 đồng tiền mặt của anh Nguyễn Văn N1. Tổng giá trị bị lấy trộm là 3.250.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Phan Văn N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có dòng chữ BORN THIS WAY; 01 nón vãi màu đen; (đã qua sử dụng).

Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn N1 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11, màu đen, số Imeil 867143064179773; 01 (một) ví da nam màu nâu (đã qua sử dụng).

Bị cáo không tranh luận, không trình bày gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo trình bày: Bị cáo không có gì để nói.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo N1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ.

Khoảng 20 giờ 30 ngày 27/03/2024, tại đường bờ kênh đoạn thuộc Tổ A, ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Văn N đã lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu đen có giá trị 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), 01 bóp da nam màu nâu có giá trị 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) và 1.800.000 đồng tiền mặt của anh Nguyễn Văn N1; Kết quả định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS, ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu đen có giá trị 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) và 01 bóp da nam màu nâu có giá trị 50.000 đồng; Tổng giá trị tài sản bị lấy trộm là 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phan Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản: chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo N là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn N1; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T, ông Trần Văn L không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố ông N1, ông T, ông L không có yêu cầu gì đối với bị cáo; Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và thông báo cho ông N1, ông T, ông L biết về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa xét xử đối với bị cáo N1 nhưng ông N1, ông T, ông L vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của ông N1, ông T, ông L không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên vẫn tiến hành xét xử đối với bị cáo N1.

Tuy ông N1, ông T, ông L không có yêu cầu gì đối với bị cáo N1, nhưng số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo N1 thu được tổng cộng là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), gồm: 1.800.000 đồng của ông N1, 500.000 đồng của ông L, 100.000 đồng của ông T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo N1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính trên, nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật là phù hợp.

Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có dòng chữ BORN THIS WAY; 01 nón vãi màu đen (đã qua sử dụng); Là vật chứng, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11, màu đen, số Imeil 867143064179773; 01 (một) ví da nam màu nâu (đã qua sử dụng) là tài sản của người bị hại Nguyễn Văn N1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn trả lại cho ông N1 là phù hợp.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 201/CT-VKSCC ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo N theo điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phan Văn N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

Buộc bị cáo Phan Văn N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có dòng chữ BORN THIS WAY; 01 nón vãi màu đen (đã qua sử dụng).

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn N1 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11, màu đen; 01 (một) ví da nam màu nâu (đã qua sử dụng).

Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 167/PNK ngày 26/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 109)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Án phí HS-ST: Bị cáo Phan Văn N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông N, ông T, ông L vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Phòng PC 27;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ. (20b)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 202/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger