|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 202/2024/HS-ST
Ngày: 09-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Phương Nam và bà Bùi Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Hữu H
(Tên gọi khác: B), sinh ngày 20/5/2001, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu P, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/10/2023 cho đến nay. Có mặt.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1997; địa chỉ: Số C đường H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Bùi Văn H3, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- - Anh Hoàng Ngọc Trường S, sinh năm 1973;địa chỉ: Số A đường N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- - Anh Phan Văn Q, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 8/2021, Lê Hữu H và chị Nguyễn Thị H2 quen biết nhau và nảy sinh tình cảm yêu đương. Trong thời gian yêu nhau thì Lê Hữu H và chị H đã nhiều lần tự nguyện quan hệ tình dục với nhau. Trong những lần quan hệ tình dục với nhau, Lê Hữu H sử dụng điện thoại di động của mình để quay lại nhiều video - clip và chụp ảnh lưu trữ trong máy điện thoại. Đến khoảng đầu tháng 01/2023, chị H phát hiện Lê Hữu H có tình cảm với một cô gái khác nên đã chủ động chia tay, đồng thời chị H chặn hết mọi liên lạc đối với Lê Hữu H. Sau đó, do không liên lạc được với chị H nên Lê Hữu H đã tự tạo lập nhiều tài khoản mạng xã hội (Facebook, zalo, instagram, TikTok,...) khác nhau để nhắn tin tỏ ý muốn hàn gắn lại tình cảm với chị H nhưng chị H không đồng ý.
Đến giữa tháng 01/2023, Lê Hữu H đã nảy sinh ý định sử dụng hình ảnh video - clip cảnh quan hệ tình dục của mình với chị H đã quay lại trước đó để đe dọa, uy hiếp, khống chế về mặt tinh thần buộc chị H phải để cho Lê Hữu H giao cấu (quan hệ tình dục) và buộc chị H phải đưa tiền cho Lê Hữu H nếu không đồng ý thì Lê Hữu H sẽ đăng các đoạn video, hình ảnh trên lên mạng xã hội. Do lo sợ ảnh hưởng đến danh dự và gia đình, bạn bè biết nên chị H đã để cho Lê Hữu H giao cấu (quan hệ tình dục) trái ý muốn tổng cộng 04 (bốn) lần và nhiều lần chuyển tiền cho Lê Hữu H, cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Ngày 19/01/2023, Lê Hữu H nhắn tin, gọi điện đe dọa, ép buộc chị H cho quan hệ tình dục. Sau đó, khoảng từ 22 giờ đến 23 giờ cùng ngày, Lê Hữu H và chị H đến thuê phòng 206 nhà nghỉ S2, địa chỉ số C N, phường P, thành phố H. Tại đây, Lê Hữu H đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của chị H 01 (một) lần (quan hệ bằng đường miệng).
- - Lần thứ hai: Ngày 30/01/2023, Lê Hữu H nhắn tin, gọi điện đe dọa, ép buộc chị H cho quan hệ tình dục. Sau đó, khoảng từ 22 giờ đến 23 giờ cùng ngày, Lê Hữu H và chị H đi đến thuê phòng 105 khách sạn V, địa chỉ quốc lộ A, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây, Lê Hữu H thực hiện hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) trái ý muốn của chị H 01 (một) lần.
- - Lần thứ ba: Ngày 11/4/2023, Lê Hữu H nhắn tin, gọi điện đe dọa, ép buộc chị H cho quan hệ tình dục. Sau đó, khoảng từ 22 giờ đến 23 giờ cùng ngày, Lê Hữu H và chị H đi đến thuê phòng 105 khách sạn V, địa chỉ quốc lộ A, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây, Lê Hữu H thực hiện hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) trái ý muốn của chị H 01 (một) lần.
- - Lần thứ tư: Khoảng chiều tối ngày 11/6/2023, Lê Hữu H đi xe khách từ Huế vào thành phố Hồ Chí Minh (nơi chị Nguyễn Thị H2 đang làm việc). Sau khi vào đến thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hữu H nhắn tin, gọi điện đe dọa, ép buộc chị H cho quan hệ tình dục. Sau đó, khoảng từ 22 giờ đến 23 giờ ngày 12/6/2023, Lê Hữu H và chị H đến thuê phòng 304 khách sạn MINI 888, địa chỉ số B C, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Lê Hữu H đã thực hiện hành vi giao cấu (quan hệ tình dục) trái ý muốn của chị H 01 (một) lần.
Đồng thời, cùng với phương thức và thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 13/3/2023 đến ngày 21/4/2023, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và tại phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hữu H đã đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H2 với tổng số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Trong đó, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Hữu H đã yêu cầu chị Nguyễn Thị H2 chuyển vào tài khoản của Lê Hữu H tổng cộng 20 (hai mươi) lần, với tổng số tiền là: 21.510.000 đồng (mỗi lần chuyển khoản dao động từ 50.000 đồng đến 5.000.000 đồng) và đưa trực tiếp bằng tiền mặt 01 (một) lần, với số tiền là: 1.490.000 đồng; vào ngày 13/6/2023, tại khách sạn M, Lê Hữu H yêu cầu chị Nguyễn Thị H2 đưa tiền mặt số tiền 2.000.000 đồng.
Ngày 25/7/2023, chị Nguyễn Thị H2 đã trình báo toàn số nội dung vụ việc với Cơ quan Công an, đến ngày 07/10/2023 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
* Vật chứng vụ án tạm giữ gồm:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS, màu vàng, số IMEI: 356165096479986 và số IMEI2: 356165096688115, điện thoại đã qua sử dụng. (tạm giữ của bị hại Nguyễn Thị H2). Đã được niêm phong theo quy định.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình bị vỡ, số IMEI1: 357931092235790 và số IMEI2: 357932092235798, điện thoại đã qua sử dụng. (tạm giữ của bị cáo Lê Hữu H). Đã được niêm phong theo quy định.
- - 01 (một) đĩa DVD có chứa 18 (mười tám) file dữ liệu điện tử Video - clip cảnh quay quan hệ tình dục giữa bị cáo Lê Hữu H và bị hại Nguyễn Thị H2 được trích xuất/ sao chép từ trong máy điện thoại của Lê Hữu H. Đã được niêm phong theo quy định.
* Tại bản kết luận giám định (dữ liệu điện tử) số 717/KL-KTHS ngày 20/11/2023 của phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Đối với điện thoại di động SAMSUNG: Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn với tài khoản có tên “H” trên ứng dụng Messenger, tài khoản có tên “H” trên ứng dụng Zalo, tài khoản có tên “hanguyen5791” trên ứng dụng I và tài khoản có tên “Hanguyen” trên ứng dụng TikTok từ ngày 01/01/2023 đến ngày 07/10/2023 trên mẫu vật gửi giám định theo yêu cầu (do điện thoại di động không khởi động được).
- Đối với 01 (một) SIM 4G Viettel có chuỗi số 8984048000000086753 và 01 (một) SIM 4G Viettel có chuỗi số 8984048000925360227: Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn với tài khoản có tên “H” trên ứng dụng Messenger, tài khoản có tên “H” trên ứng dụng Zalo, tài khoản có tên “hanguyen5791” trên ứng dụng I và tài khoản có tên “Hanguyen” trên ứng dụng TikTok từ ngày 01/01/2023 đến ngày 07/10/2023 trên mẫu vật gửi giám định theo yêu cầu.
* Tại bản kết luận giám định (dữ liệu điện tử) số 716/KL-KTHS ngày 06/12/2023 của phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - Tìm thấy và trích xuất được 3.461 (ba nghìn bốn trăm sáu mươi mốt) lượt tin nhắn Messenger; 21 (hai mươi mốt) lượt tin nhắn Instagram; 739 (bảy trăm ba mươi chín) lượt tin nhắn SMS; 63 (sáu mươi ba) lượt tin nhắn TikTok; 10 (mười) lượt tin nhắn Viber; 7.808 (bảy nghìn tăm trăm lẽ tám) lượt tin nhắn Whatsapp; 60.288 (sáu mươi nghìn hai trăm tám mươi tám) lượt tin nhắn Zalo; 01 (một) chuỗi tin nhắn Telegram với tài khoản có tên “Thúy HR Thanh” trên mẫu A1 (vật gửi giám định) từ ngày 01/01/2023 đến ngày 07/10/2023.
Sau khi giám định, phòng K Công an tỉnh T đã trích xuất/ sao lưu toàn bộ dữ liệu tin nhắn nêu trên lưu trữ trong 01 đĩa DVD ghi tên “Vụ 716/KL-KTHS" bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tạm giữ bảo quản theo quy định của pháp luật.
* Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 138-24/KLXHTD-GĐPY ngày 15/3/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T kết luận:
- Các kết quả chính: Kết quả khám lâm sàng: Bộ phận sinh dục của Nguyễn Thị H2 phát triển bình thường. Niêm mạc âm hộ tầng sinh môn không phát hiện tổn thương mới. Màng trình hình sao, bờ dày. Màng trinh rách cũ đến tận chân vị trí 3 giờ, 5 giờ và 9 giờ đã tạo cầu tổ chức. Lỗ trinh để tự nhiên 1,5cm, kéo dãn tối đa 52cm. Trên cơ thể không phát hiện tổn thương do thương tích gây nên.
- Kết luận:
- - Bộ phận sinh dục của Nguyễn Thị H2 phát triển bình thường. Niêm mạc âm hộ tầng sinh môn không phát hiện tổn thương.
- - Màng trinh rách cũ vị trí 3 giờ, 5 giờ và 9 giờ đã tạo cầu tổ chức. Tuổi tổn thương khoảng ngoài xa 6 tháng so với thời điểm giám định, không xác định rõ chính xác thời gian cụ thể.
- - Trên cơ thể không phát hiện tổn thương do thương tích gây nên.
- - Hiện tại Nguyễn Thị H2 không mang thai./.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 23/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 569/QĐ trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS, màu vàng, số IMEI: 356165096479986 và số IMEI2: 356165096688115 cho chị Nguyễn Thị H2 là chủ sở hữu hợp pháp về tài sản.
Đối với vật chứng hiện còn tạm giữ chuyển đến Chi cục Thị hành án dân sự thành phố H để phục vụ công tác truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Thị H2 yêu cầu bị cáo Lê Hữu H bồi thường với tổng số tiền là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đối với tội “Cưỡng dâm” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo Lê Hữu H đã tác động đến gia đình bồi thường đầy đủ số tiền nêu trên, chị H không có yêu cầu gì thêm và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKSTPH ngày 10 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Lê Hữu H về tội “Cưỡng dâm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H phạm tội “Cưỡng dâm” và tội “Cưỡng đoạt tài sản";
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (áp dụng đối với tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 54; Điều 55 của Bộ luật hình sự,
- Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình bị vỡ, số IMEI1: 357931092235790 và số IMEI2: 357932092235798, điện thoại đã qua sử dụng (tạm giữ của bị cáo Lê Hữu H).
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng tháng 8/2021, Lê Hữu H và chị Nguyễn Thị H2 có quan hệ tình cảm và tự nguyện quan hệ tình dục nhiều lần. Lê Hữu H đã sử dụng điện thoại di động của mình tự chụp ảnh và quay video - clip lưu trữ lại, sau một thời gian thì cả hai chia tay nhau. Đến giữa tháng 01/2023, Lê Hữu H đe dọa sẽ đăng tải các đoạn video - clip/ hình ảnh mà Lê Hữu H đã quay/ chụp ảnh cảnh quan hệ tình dục của mình trước đó với chị H lên các trang mạng xã hội (zalo, facebook, instagram,...) và gửi cho bạn bè, người thân, đồng nghiệp biết nhằm ép buộc chị Nguyễn Thị H2 phải để cho Lê Hữu H quan hệ tình dục trái ý muốn của mình 04 lần gồm: tại thành phố H 01 lần; tại thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế 02 lần và tại phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh 01 lần. Đồng thời, cùng với phương thức và thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 13/3/2023 đến ngày 21/4/2023, tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và tại phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hữu H đã nhiều lần đe dọa chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H2 với tổng số tiền 25.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, Lê Hữu H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố về tội “Cưỡng dâm” theo điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm và quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo cùng lúc phạm vào 02 tội: tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng; nhiều lần sử dụng clip, ảnh nóng gây áp lực, đe dọa, uy hiếp tinh thần để ép buộc bị hại phải miễn cưỡng giao cấu với mình và chiếm đoạt của bị hại số tiền tổng cộng 25.000.000 đồng.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Đối với tội “Cưỡng dâm” bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt về tội này như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình bị vỡ, số IMEI1: 357931092235790 và số IMEI2: 357932092235798, là công cụ bị cáo dùng để lưu trữ các video - clip quay cảnh bị cáo và bị hại quan hệ tình dục nhằm phục vụ cho hành vi tội phạm nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H phạm tội “Cưỡng dâm” và “Cưỡng đoạt tài sản".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, màn hình bị vỡ, số IMEI1: 357931092235790 và số IMEI2: 357932092235798, điện thoại đã qua sử dụng (tạm giữ của bị cáo Lê Hữu H).
Vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc Lê Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng dâm”
Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 01 (Một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày tạm giam 08/10/2023.
Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tôn Minh Hiền |
Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vụ án hình sự về tội cưỡng dâm và cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 202/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cưỡng dâm và Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu H cưỡng dâm và cưỡng đoạt tài sản
