|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 202/2024/KDTM-PT |
|
|
Ngày: 08/8/2024 |
|
|
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh;
Các Thẩm phán : Bà Lê Thúy Linh
Ông Nguyễn Xuân Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26/7 và 08/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 47/2024/KDTM-PT ngày 19/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 35/2023/KDTM-ST ngày 19/8/2023 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bị kháng cáo và kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 394/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 20/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 430/2024/QĐPT-KDTM ngày 09/7/2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K1
Trụ sở: Số F, phố Q, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A - Chủ tịch hội đồng
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Minh T, ông Trần Trọng H - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng K1
Bị đơn: Công ty Cổ phần T7.
Địa chỉ: P tòa nhà N, tổ A, phường D, quận C, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Minh T1 - Giám đốc. Hiện đang sinh sống tại thành phố L, Mỹ.
Người đại diện tham gia tố tụng do Tòa án chỉ định: Ông Nguyễn Quang T2 - Chủ tịch HĐQT, Công ty Cổ phần T7. HKTT: SỐ H P, phường H, quận H, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Đặng Thị H1, sinh 1948; ông Trần Quang T3, sinh 1948. Cùng HKTT: Số G phố N, phường N, quận H, thành phố Hà Nội
Bà Trần Thị Mai H2, sinh 1978; chị Lê Hương T4, sinh 1994; anh Lê Hoàng B, sinh 1998. Cùng HKTT: Số G phố N, phường N, quận H, thành phố Hà Nội
Ông Đặng Việt H3, sinh 1957; bà Nguyễn Thị Minh T5, sinh 1960; ông Đặng Vũ H4, sinh 1989; bà Phạm Phương M, sinh 1987; bà Đặng Trà M1, sinh 1984; ông Đặng Minh H5, sinh 1983; bà Lưu Thị D, sinh 1993. Cùng cư trú: Số G phố N, phường N, quận H, thành phố Hà Nội
(Nguyên đơn có mặt; Bị đơn và những tất cả những người liên quan
vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 trình bày:
Ngân hàng TMCP K1 (Gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty Cổ phần T7 (Gọi tắt là Công ty T7) đã ký kết Hợp đồng hạn mức tín dụng số: 01022013/HĐTD-NPS/GAMA ngày 01/02/2013 cùng các Khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ. Nội dung hợp đồng thể hiện việc Ngân hàng cấp cho Công ty vay một hạn mức tín dụng là 10.000.000.000 đồng; Thời hạn sử dụng hạn mức tín dụng được cấp: 12 tháng (Từ ngày 01/02/2013 đến hết ngày 01/02/2014); Lãi suất: lãi suất theo từng lần giải ngân do hai bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được quy định bởi T8 tại từng thời kỳ theo từng đối tượng khách hàng và được quy định cụ thể trên Khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ lập theo mỗi lần rút vốn vay.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T7 vay tổng số tiền là 8.328.912.150 đồng theo 02 Khế ước nhận nợ số 06022013/001 ngày 06/02/2013 lãi suất cho vay 15,5%/năm và số 20022013/002 ngày 20/02/2013 lãi suất cho vay 15,9%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của hợp đồng nêu trên là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 76 (1 phần), tờ bản đồ số 7H-III-48, tại địa chỉ số G N, phường N, quận H, thành phố Hà Nội do UBND quận H cấp cho bà Đặng Thị H1.
Đến hạn trả nợ, Công ty T7 trả được 1.241.605 đồng, không đủ thanh toán nợ lãi. Tính đến ngày thanh toán toàn bộ nợ gốc, Công ty T7 không trả được nợ, khoản vay bị chuyển quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn = Lãi suất trong hạn x 1.5 lần, tương đương lần lượt là 23,25%/năm và 23,85%/năm, theo quy định tại Điều 3.4.3 Hợp đồng cung cấp hạn mức tín dụng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc yêu cầu Công ty T7 trả nợ và bà H1 + ông T3 bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy định nhưng Công ty T7 và bà H1 + ông T3 không thực hiện.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc Công ty T7 thanh toán số tiền: 28.959.316.250 đồng bao gồm 8.328.912.150 đồng nợ gốc và 20.630.404.100 đồng nợ lãi (Tạm tính đến hết ngày 18/8/2023).
- - Buộc Công ty G tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi trên số tiền nợ chậm thanh toán tương ống với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng ký kết giữa hai bên.
- Trường hợp Công ty không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên đề thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn là Công ty Cổ phần T7 đã được Tòa án triệu tập hợp đến Tòa nhưng vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, tại phiên hoà giải và tại phiên tòa.
Bản tự khai viết tay đề ngày lập 28/7/2021 mang tên người lập Đỗ Minh T1 được ghi địa điểm lập tại thành phố L (Không được hợp thức hóa lãnh sự) có nội dung: Bà rất bất bình vì không hiểu sao Ngân hàng lại có thể tiếp tục khởi kiện bà bởi trước đó năm 2020 cũng tại Tòa án Cầu G, bà đã nộp bản tự khai và các văn bản gửi Tòa do dịch bệnh Covid 19 đang diễn ra nên bà không nhập cảnh về Việt Nam, bà đã cung cấp địa chỉ, số điện thoại nhưng không được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án. Bà T1 cho rằng tại thời điểm ở Việt Nam, bà có mượn bà Đặng Thị H1 + ông Trần Quang T6 tài sản là nhà tại 75, phố N, quận H để vay vốn kinh doanh. Tuy nhiên trong quá trình làm ăn gặp khó khăn nên bà xuất cảnh đi Mỹ năm 2013. Việc vay vốn lúc đó chỉ dừng ở việc ký hợp đồng thế chấp, ngoài ra bà không ký và bất kỳ các khế ước nhận nợ và bản cam kết trả nợ. Không hiểu sao Ngân hàng lại giải ngân được số tiền đó. Trong hồ sơ cho vay có nhiều uẩn khúc cần làm rõ như: Tháng 1, tháng 2 năm 2013 lúc đó bà đang lo làm thủ tục để xuất cảnh nên cá nhân bà đã tạm dừng việc kinh doanh...Ngày 24/2/2013 bà đã ra khỏi lãnh thổ Việt Nam nhưng trong Khế ước nhận nợ lại ghi ngày 26/2/2013, sau 02 ngày thì bà làm sao có mặt để ký được. Bà T6 đề nghị Tòa án xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cũng như toàn bộ lời khai trước đây của bà, bà cũng gửi mẫu chữ ký của bà đã được hợp thức hóa lãnh sự để quý Tòa xem xét. Đồng thời bà T6 cũng đề nghị Tòa án cho tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án chờ hết dịch bệnh Covid 19 để bà xin nhập cảnh về Việt Nam kết hợp cùng Tòa giải quyết tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Đặng Thị H1 trình bày:
Bà Đỗ Minh T1 - Người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 là con nuôi được bà H1 nhận nuôi từ nhỏ nhưng không làm thủ tục nhận nuôi theo quy định của pháp luật. Bà H1 không nhớ rõ thời gian nào bà T1 và ông T2 (Không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) đến gặp bà H1 đề nghị mượn tài sản là căn nhà thuộc sở hữu của vợ chồng bà H1, ông T3 được cha mẹ tặng cho. Khi mượn nhà, bà T1 nói là do mẹ bị điên, bố bỏ đi lấy vợ khác nên cần tiền vay để phục vụ kinh doanh nên bà H1 đã đồng ý và ký vào toàn bộ hồ sơ mà bà T1 đưa nhưng không biết về nội dung của hồ sơ. Thời gian đó, căn nhà đang được vợ chồng bà H1 sử dụng, sinh sống tại tầng trên còn tầng trệt bà H1 cho thuê để kinh doanh đồ bảo hộ lao động. Hiện nay gia đình bà H1 đang sinh sống tại nhà số G, N gồm: Vợ chồng bà H1, con gái bà là chị Trần Thị Mai H2 và 02 con của chị H2.
Bà H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với Công ty Cổ phần T7 vì bà không được hưởng lợi gì từ việc kí kết Hợp đồng giữa họ.
Chị Trần Thị Mai H2 trình bày: Nhà đất tại địa chỉ số G, phố N, quận H, Hà Nội là tài sản thuộc sở hữu của mẹ chị Đặng Thị H1 đã được tặng cho từ trước khi kết hôn.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 35/2023/KDTM-ST ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015, chấp nhận yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng TMCP K1 (T8) đối với bị đơn Công ty Cổ phần T7 về việc buộc bị đơn thanh toán khoản tiền lãi phạt 786.430.752 đồng (tạm tính đến ngày 18/8/2023) và tiền lãi phạt phát sinh kể từ ngày 19/8/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T8) về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần T7 có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi phạt 786.430.752 đồng (Tạm tính đến ngày 18/8/2023) và tiền lãi phạt phát sinh kể từ ngày 19/8/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T8) về việc yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần T7 phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng hạn mức tín dụng số: 01022013/HĐTD-NPS/GAMA ký ngày 01/02/2013 giữa hai bên và thông qua các khế ước nhận nợ kèm theo (02 khế ước).
Xác định tính đến ngày 18/8/2023, bị đơn Công ty Cổ phần T7 còn nợ nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T8) tổng cộng là: 28.959.316.250 đồng (Hai mươi tám tỷ chín trăm năm mươi chín triệu ba trăm mười sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng) trong đó nợ gốc: 8.328.912.150 đồng (Tám tỷ ba trăm hai mươi tám triệu chín trăm mười hai nghìn một trăm năm mươi đồng) và nợ lãi là 20.630.404.100 đồng (Hai mươi tỷ sáu trăm ba mươi triệu bốn trăm linh tư nghìn một trăm đồng), bao gồm nợ lãi trong hạn: 319.895.460 đồng (Ba trăm mười chín triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi đồng) và nợ lãi quá hạn: 20.310.508.640 đồng (Hai mươi tỷ ba trăm mười ba triệu năm trăm linh tám nghìn sáu trăm bốn mươi đồng) theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số: 01022013/HĐTD-NPS/GAMA ngày 01/02/2013.
Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T7 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K1 (T8) tổng cộng là: 28.959.316.250 đồng (Hai mươi tám tỷ chín trăm năm mươi chín triệu ba trăm mười sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng) trong đó nợ gốc: 8.328.912.150 đồng (Tám tỷ ba trăm hai mươi tám triệu chín trăm mười hai nghìn một trăm năm mươi đồng) và nợ lãi là 20.630.404.100 đồng (Hai mươi tỷ sáu trăm ba mươi triệu bốn trăm linh tư nghìn một trăm đồng), bao gồm nợ lãi trong hạn: 319.895.460 đồng (Ba trăm mười chín triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi đồng) và nợ lãi quá hạn: 20.310.508.640 đồng (Hai mươi tỷ ba trăm mười ba triệu năm trăm linh tám nghìn sáu trăm bốn mười đồng) theo Hợp đồng hạn mức tín dụng số: 01022013/HĐTD-NPS/GAMA ngày 01/02/2013.
- Kể từ ngày 19/8/2023 cho đến khi thi hành án xong, bị đơn Công ty Cổ phần T7 phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K1 (T8) số tiền lãi trên số tiền nợ chậm thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng kí kết giữa hai bên.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty Cổ phần T7 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP K1 (T8) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh nêu trên tại mục 2 và mục 3 của phần Quyết định của Bản án. Cụ thể tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 76 (1 phần), tờ bản đồ số 7H-III-48 có diện tích 42,8m2, hình thức sử dụng riêng tại địa chỉ số G N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mã số: 10107012840, Hồ sơ gốc số: 201.2004. QĐUB/12.2004 do UBND quận H, TUQ UBND Thành phố H cấp ngày 19/11/2004 theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số công chứng 121.2013/HĐTC ngày 01/02/2013 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội). Tài sản bảo đảm được xử lý theo diện tích kích thước thực tế tại thời điểm xử lý”.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có kháng nghị và bà Đặng Thị H1 có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
- Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐ -VKS-KDTM ngày 15/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Lý do:
Về tố tụng: Bà Đỗ Minh T1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam từ năm 2013 và đến nay chưa về. Hội đồng thành viên công ty không có tài liệu cử người đại diện theo pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm không chỉ định người đại diện theo pháp luật khác cho công ty để tham gia tố tụng.
Về nội dung: Khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ do bà T1 là người ký nhưng tại Tòa án bà T1 khai không ký nhận nợ. Cần phải trưng cầu giám định chữ ký của bà T1 tại các khế ước nhận nợ để đánh giá toàn diện, khách quan vụ án.
- Bà Đặng Thị H1 kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do tại thời điểm ngân hàng giải ngân theo khế ước nhận nợ ngày 26/02/2013 thì bà T1 - Giám đốc Công ty T7 đã xuất cảnh từ ngày 24/02/2013. Ngân hàng có trách nhiệm trong việc thẩm định hồ sơ vay.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn và tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Bà Đặng Thị H1 (Người kháng cáo) vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội thay đổi một phần Kháng nghị và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính:
Kháng cáo của bà Đặng Thị H1 là hợp lệ. Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Bà H1 người kháng cáo vắng mặt đến lần thứ hai tại phiên tòa nhưng không thuộc trường hợp bất khả kháng nên coi là đã từ bỏ kháng cáo. Đề nghị đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bà H1.
Kháng nghị số 13/QĐ.VKS-KDTM ngày 15/9/2023 của Viện Kiểm sát thành phố Hà Nội đối với bản án sơ thẩm có 2 phần về tố tụng và nội dung.
Về tố tụng: Do bà Đỗ Minh T1 (Giám đốc Công ty T7) đã xuất cảnh ra nước ngoài nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chỉ định người đại diện theo pháp luật của Công ty để tham gia tố tụng là vi phạm. Quyết định số 13 về việc bán án sơ thẩm thiếu người tham gia tố tụng là đúng nên đề nghị HĐXX chấp nhận phần kháng nghị này. Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã điều tra thu thập chứng cứ tại Phòng Đăng ký Kinh doanh - Sở Đầu tư thành phố H và chỉ định người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 là ông Nguyễn Quang T2 - Chủ tịch HĐQT Công ty làm người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 tham gia tố tụng đã khắc phục sai sót của cấp phúc thẩm nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm.
Phần kháng nghị về nội dung vụ án: Bà T1 cho rằng 02 giấy nhận nợ được ký kết vào ngày 26/2/2013 sau khi bà đã xuất cảnh ra khỏi Việt Nam từ ngày 24/2/2013. Thấy rằng: 02 giấy nhận nợ đều có chữ ký của bà T1 và đóng dấu của Công ty T7 vào các ngày 06/02 và 20/02/2013 đều do bà Đỗ Minh T1 (Người đại diện Công ty) ký kết trước ngày bà T1 xuất cảnh, Ngân hàng cũng đã giải ngân cho Công ty T7 vay đủ số tiền theo 02 khế ước bằng Ủy nhiệm chi đúng quy định nên yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng có căn cứ chấp nhận. Đối với phần kháng nghị về nội dung, Viện Kiểm sát thành phố Hà Nội xin rút và đề xuất sửa bản án sơ thẩm về xác định tư cách tham gia tố tụng của Công ty T7.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị:
Đơn kháng cáo của bà Đặng Thị H1 làm trong thời hạn luật định, bà H1 sinh năm 1948 là người cao tuổi nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không ra thông báo về việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là thiết sót, cần rút kinh nghiệm.
Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trong thời hạn luật định.
Về thủ tục tố tụng: Ngày 20/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2024/QĐXXPT-KDTM và ấn định thời gian mở phiên tòa đối với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K1 (Ngân hàng) và Công ty Cổ phần T7 (Công ty T7) vào hồi 13h30 ngày 09/7/2024, tại phiên tòa chỉ có mặt nguyên đơn (Ngân hàng) còn bị đơn và tất cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không lý do nên HĐXX đã ban hành Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lại thời gian mở phiên tòa vào hồi 8h45 ngày 26/7/2024. Tại phiên tòa ngày 26/7/2024, bà H1 và tiếp tục vắng mặt lần thứ hai và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bà đang bị ốm phải theo dõi và điều trị do bà không được khỏe. Kèm theo đơn xin hoãn phiên tòa là một số tài liệu photo là: Phiếu chỉ định dịch vụ kĩ thuật lấy mẫu thường khám theo yêu cầu của bệnh nhân Đặng Thị H1 chuẩn đoán E11- Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc., phiếu điện tim đồ, phiếu chụp X quang, phiếu khám bệnh phòng khám yêu cầu. Không có kết luận của bác sỹ, không có chỉ định nằm điều trị. Vì vậy không thuộc trường hợp bất khả kháng. Do vậy lý do xin hoãn phiên tòa của bà H1 không được chấp nhận. Việc bà H1 vắng mặt đến lần thứ 2 tại phiên tòa được coi là đã từ bỏ kháng cáo. HĐXX đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bà H1, chỉ xét xử đối với Kháng nghị số 13//QĐ.VKS-KDTM ngày 15/9/2023 của Viện Kiểm sát thành phố Hà Nội.
2. Xét về thủ tục tố tụng:
Quyết định kháng nghị số 13 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có nội dung: Bà Đỗ Minh T1 - Người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam từ năm 2013 đến nay chưa trở về sinh sống tại Việt Nam nhưng Tòa án Cầu G khi giải quyết vụ án không chỉ định người khác đại diện cho Công ty tham gia tố tụng.
HĐXX thấy rằng: Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 5 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp ngày 09/10/2012 thì Công ty T7 có người đại diện theo pháp luật là bà Đỗ Minh T1. Tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án thể hiện bà T1 đang sinh sống tại thành phố L Mỹ.
Ngày 28/7/2021, bà T1 có Bản tự khai (bút lục 157) gửi Tòa án (Bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định pháp luật. Kèm theo là hộ chiếu số N2253735 do Đ tại Hoa Kỳ cấp ngày 21/9/2020). Trong bản tự khai, bà T1 trình bày ngày 24/02/2013 bà đã xuất cảnh khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Như vậy, tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 là bà Đỗ Minh T1 đang không có mặt tại Việt Nam.
Theo quy định tại khoản Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014: "Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền".
Ở đây, Hội đồng quản trị Công ty T7 không cử người đại diện; Bà T1 không có văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần phải yêu cầu Hội đồng quản trị Công ty cử người đại diện tham gia tố tụng, trường hợp Hội đồng quản trị Công ty không thực hiện thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện mà chỉ tống đạt văn bản tố tụng tại địa chỉ Công ty theo đăng ký kinh doanh và địa chỉ cư trú của người đại diện theo pháp luật của công ty là bà T1.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở K. Trên cơ sở tài liệu được cung cấp, Tòa án đã có văn bản yêu cầu Hội đồng quản trị Công ty T7 cử người đại diện tham gia tố tụng. Hết thời hạn đã ấn định nhưng không nhận được tài liệu cử đại diện tham gia tố tụng của Công ty T7 nên ngày 09/5/2024, Tòa án ban hành Quyết định số 280/2024/QĐ-TKT chỉ định ông Nguyễn Quang T2, HKTT: Số H P, phường H, quận H, thành phố Hà Nội - là cổ đông sáng lập của Công ty T7 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 5 của Công ty T7 là người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng cho Công ty T7.
Xét thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót trong việc chỉ định người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 tham gia tố tụng nhưng thiết sót này không làm thay đổi nội dung của vụ án. Bà T1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 đã có bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Kháng nghị số 13 của VKS thành phố H có căn cứ chấp nhận ở nội dung này.
3. Xét về nội dung:
Hợp đồng hạn mức tín dụng số: 01022013/HĐTD-NPS/GAMA giữa Công ty T7 và Ngân hàng được ký kết ngày 01/02/2013, theo đó Ngân hàng cấp cho Công ty T7 hạn mức tín dụng 10.000.000.000đồng. Thời hạn sử dụng hạn mức tín dụng là 12 tháng từ ngày ký đến 01/02/2014. Lãi suất cho vay theo từng lần giải ngân: Do hai bên thỏa thuận, không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được quy định bởi T8 tại từng thời kỳ theo từng đối tượng khách hàng và được quy định cụ thể trên Khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ lập theo mỗi lần rút vốn vay. Đại diện Công ty T7 ký hợp đồng hạn mức tín dụng là bà Đỗ Minh T1 - Giám đốc.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, trong các ngày 6 và 20/02/2013, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T7 vay số tiền 8.328.912.150 đồng theo 02 Khế ước nhận nợ và cam kết trả nợ, mục đích vay vốn: thanh toán cho Hợp đồng số 04 +05/2013/HDKT-GM/TV ngày 18/02/2013 và hóa đơn số 085.
Bà T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng thời điểm Ngân hàng giải ngân theo các Khế ước nhận nợ nêu trên, bà T1 - Giám đốc Công ty T7 người ký vào bên nhận nợ trong khế ước đã xuất cảnh khỏi Việt Nam từ ngày 24/02/2013 nên không biết quy trình thẩm định hồ sơ cho vay, giải ngân của Ngân hàng có được thực hiện đúng pháp luật hay không.
Xét thấy: Hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 01/02/2013 đư ợc ký kết tự nguyện, đã đảm bảo về điều kiện chủ thể ký kết. Nội dung của hợp đồng đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Trình bày của các đương sự về việc bà T1 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam tại thời điểm Ngân hàng giải ngân số tiền 8.328.912.150đồng là không phù hợp bởi thời điểm ngân hàng giải ngân là các ngày 06 + 20/02/2013, còn theo bản tự khai của bà T1 gửi Tòa án và trình bày của các đương sự thì bà T1 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam vào ngày 24/02/2013. Tức là việc xuất cảnh của bà T1 sau ngày ký Khế ước nhận nợ.
Các Khế ước nhận nợ các ngày 06/02/2013 và ngày 20/02/2013 có đầy đủ chữ ký của bà T1 (Người đại diện theo pháp luật của Công ty T7 và dấu đóng của Công ty T7), Ngân hàng cũng đã giải ngân đủ số tiền 8.328.912.150đồng theo đề nghị của Công ty T7 (bên vay) vào tài khoản của Công ty T7 theo 02 Ủy nhiệm chi. Vì vậy, không có cơ sở để cho rằng việc ký Khế ước nhận nợ ngày 20/02/2013 là giả tạo, không có thật.
Tổng hợp các tình tiết và các tài liệu trong hồ sơ đủ căn cứ xác định Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T7 vay 8.328.912.150đồng theo 02 Khế ước nhận nợ. Đến hạn thanh toán, Công ty T7 vẫn chưa hoàn tất việc thanh toán các khoản nợ gốc, lãi cho Ngân hàng.
Đối chiếu bảng kê tính lãi do Ngân hàng xuất trình, tính đến ngày 18/8/2023, Công ty T7 còn nợ Ngân hàng nợ gốc 8.328.912.150đồng, nợ lãi trong hạn 319.895.460đồng, nợ lãi quá hạn 20.310.508.640đồng. Tổng cộng 28.959.316.250đồng. Mức lãi suất Ngân hàng áp dụng phù hợp với thỏa thuận của các bên theo K ước nhận nợ nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty T7 phải thanh toán các khoản nợ trên là có căn cứ.
Đối với yêu cầu khởi kiện tiền lãi phạt chậm trả do Ngân hàng đã rút tại cấp sơ thẩm và đã được Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết nên HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T7 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức và khế ước nhận nợ nêu trên, bà Đặng Thị H1 + ông Trần Quang T3 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 76 (1 phần), tờ bản đồ số 7H-III-48, tại địa chỉ số G N, tổ B, phường N, quận H, Hà Nội. Tài sản bảo đảm được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy: Hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện, chủ thể tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và chứng thực đúng quy định. Nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm nên hợp đồng có hiệu lực thi hành.
Điều 1 Hợp đồng thế chấp quy định tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất 42,8m2 và nhà ở bê tông 02 tầng diện tích xây dựng 31m2. Tài sản này trùng khớp với nội dung trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10107012840. Ông T3, bà H1 đã ký xác nhận tại Biên bản kiểm tra, định giá tài sản đảm bảo ngày 31/01/2013 (bút lục 54).
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/6/2013 (bút lục 196a) của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thể hiện tại số G N trên đất có 01 nhà 03 tầng. Giữa 02 nhà 75B, 75C chung nhau 01 bức tường.
Trường hợp Công ty T7 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại đối với toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã thế chấp để thu hồi nợ.
Kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có căn cứ chấp nhận về việc chỉ định người đại diện tham gia tố tụng của Công ty T7. Các nội dung khác của Kháng nghị đã được VKS thành phố Hà Nội thay đổi nên HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26/7/2024, do bà H1 (Người kháng cáo vắng mặt lần thứ 2) nên HĐXX đã chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bà H1, chỉ xét xử đối với Kháng nghị của V. Cũng tại phiên tòa, vị đại diện VKS đề nghị tạm ngừng phiên tòa để VKS có thời gian xem xét và phát biểu quan điểm về Kháng nghị số 13 trước khi HĐXX vào nghị án và tuyên án nên HĐXX đã quyết định tạm ngừng phiên tòa và ấn định lại thời gian để VKS phát biểu quan điểm vào hồi 8h45 ngày 8/8/2024. Buổi chiều ngày 07/8/2024, Tòa án nhận được Đơn xin hoãn phiên tòa của bà H1 kèm theo Phiếu thu tạm ứng nhập viện của bà H1. Trong đơn xin hoãn phiên tòa, bà H1 đề nghị HĐXX chuyển xét xử vào ngày khác do bà phải nhập viện điều trị từ ngày 7/8/2024. Tuy nhiên, yêu cầu xin hoãn phiên tòa của bà H1 không có căn cứ chấp nhận vì đã được HĐXX đình chỉ giải quyết kháng cáo từ ngày 26/7/2024.
Từ những nhận định trên
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024
QUYẾT ĐỊNH
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 35/2023/KDTM-ST ngày 19/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu đòi thanh toán tiền lãi phạt 786.430.752đ của Ngân hàng TMCP K1 đối với Công ty Cổ phần T7 do rút yêu cầu.
- Chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng TMCP K1 đối với Công ty Cổ phần T7 theo Hợp đồng tín dụng số 01022013/HĐTD-NPS/GAMA ngày 01/02/2013.
- Công ty Cổ phần T7 phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP K1 số tiền tạm tính đến ngày 19/8/2023 là 8.328.912.150₫ (Gốc) cùng 319.895.460₫ (Lãi trong hạn) và 20.310.508.640₫ (Lãi quá hạn). Tổng cộng: 28.959.316.250₫ (Hai tám tỷ, chín trăm năm chín triệu, ba trăm mười sáu nghìn, hai trăm năm mươi đồng).
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (20/8/2023) Công ty Cổ phần T7 còn tiếp tục phải chịu tiền lãi đối với khoản tiền gốc chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản tiền gốc.
- Trường hợp Công ty Cổ phần T7 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì Ngân hàng TMCP K1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 76 (1 phần), tờ bản đồ số 7H-III-48, diện tích 42,8m2, hình thức sử dụng riêng, địa chỉ số G N, tổ B, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội đã được UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mã số: 10107012840, Hồ sơ gốc số: 201.2004. QĐUB/12.2004 ngày 19/11/2004 cho người sở hữu, sử dụng: Bà Đặng Thị H1. Tài sản bảo đảm được xử lý theo diện tích, kích thước thực tế tại thời điểm xử lý.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty cổ phần T7 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty cổ phần T7 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Công ty Cổ phần T7 phải chịu 136.959.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP K1 66.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 017580 ngày 05/5/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Đặng Thị H1 vì thuộc người cao tuổi.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 202/2024/KDTM-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 202/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
