Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 202/2023/HS-ST

Ngày 06-11-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Sinh Chi
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bùi Quang Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Đức H, sinh ngày 30/4/1991 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn ĐA, xã TT, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vịêt Nam; con ông Bùi Xuân V và bà Vương Thị Kim T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 09/2011/HSST ngày 24/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Đức Hân 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phạt tù ngày 27/10/2012, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/8/2011; bản án số 139/2017/HSST ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Đức H 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/7/2018, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/12/2017. Bị cáo tạm giữ từ ngày 03/8/2023 đến ngày 09/8/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (có mặt).

* Người chứng kiến:

Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số nhà 10, tổ 05, phường BX, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

Anh Trần Xuân Q, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn LC, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 03/8/2023, Bùi Đức H đi xe ôm từ nhà đến khu vực khu đô thị Petro Thăng Long thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó, H cất ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày khi H đi đến khu vực đường Phan Bá Vành, tổ 06, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Dương Ngọc H và ông Trần Xuân Q, H đã tự giác lấy từ trong túi quần bên phải của H ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là Heroin của Bùi Đức H vừa mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số 1183/KL-KTHS(MT) ngày 07/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Bùi Đức H gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1681gam Heroin.

Cáo trạng số 200/CT-VKSTPTB ngày 13/10/2023 của Vịên kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với bị cáo Bùi Đức H về tôi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bô luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1183/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.

Bị cáo Bùi Đức H đồng ý với tôi danh Vịên kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đa truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Bùi Đức Hân nói lời sau cùng : Đề nghị Hôi đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sơ nôi dung vu an , căn cứ vào các tai lịêu trong hồ sơ vụ án đa được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tổ tung của cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đa thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự . Quá trình điều tra và tai phiên tòa , không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyết đinh của Cơ quan tiến hành tổ tung, người tiến hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyết định tổ tung của Cơ quan tiến hành tố tung , người tiến hành tố tung đa thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 03/8/2023 tại khu vực đường Phan Bá Vành, tổ 06, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Bùi Đức H có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroin có khối lượng 0,1681 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bùi Đức H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Như vậy, hành vi trên của Bùi Đức H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Bùi Đức H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về nguồn gốc số ma túy, Bùi Đức H khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực khu đô thị Petro Thăng Long, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo Bùi Đức H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Đức H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 03/8/2023).

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số m a túy thu gi ữ của Bùi Đức H còn lại sau giam định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1183/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/10/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Bùi Đức H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Đức H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/11/2023).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 202/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger