|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 202/2024/HS-ST Ngày: 05/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Sung
Ông Cà Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:
Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn Đ; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1990, tại tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký thường trú: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi tạm trú và chỗ ở: Bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lái xe; Bị cáo là Đảng viên, ngày 19/8/2024 bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 63-QĐ/UBKTHU của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M, tỉnh Điện Biên; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tòng Văn Ô và con bà: Lò Thị L; Vợ: Lò Thị L1, Con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật (Ngày 12/4/2024 Tòng Văn Đ bị Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ xử phạt vi phạm hành chính 15.000.000 đồng về hành vi mua và vận chuyển lâm sản trái pháp luật theo Quyết định xử phạt số 0000375/QĐ-XPVPHC. Ngày 12/4/2024 chấp hành xong); Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào xét xử. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lường Văn H - Sinh năm: 1979, Địa chỉ: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tòng Văn Đ có 01 tiền sự về hành vi mua và vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Tòng Văn Đ điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 68C-034.99 từ nhà ở bản M, xã M, huyện Đ đến khu vực đường bản thuộc bản Cò Chạy 1, xã M, huyện Đ để tìm mua củ Cẩu Tích về bán. Tại đây, Đ gặp và hỏi mua được của năm người phụ nữ dân tộc T (không biết tên, địa chỉ) 960kg củ C tích với giá 2.000 đồng/kg. Sau khi cân xác định khối lượng củ Cẩu Tích bằng cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, Đ xé tờ giấy ghi khối lượng của từng người và đưa lại cho một người phụ nữ cùng số tiền 1.920.000 đồng để họ tự chia nhau tiền. Mua xong, Đ cho củ Cẩu T1 cùng chiếc cân lên thùng xe ô tô chở về nhà. Hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe ô tô đến khu vực đường Q, thuộc bản Cò Chạy 1, xã M, huyện Đ thì bị tổ công tác Hạt Kiểm lâm huyện Đ kiểm tra, phát hiện thu giữ trên thùng xe ô tô của Đ 960kg củ Cẩu tích, 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H1 loại 100kg và tạm giữ xe ô tô biển kiểm soát 68C-034.99 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô.
Tại phiếu kết quả giám định và phân tích mẫu số: 73DV24 ngày 20/5/2024 của V - Bộ Y kết luận: Lâm sản ngoài gỗ trên có tên khoa học là C1 barometz (L.)J.Sm. Tên Việt Nam là Cẩu tích, lông cu li, Ráng cát tu, Kim mao. Họ thực vật (D - Lông cu li).
Cẩu tích được ghi nhận trong danh lục cây thuốc Việt Nam và được đưa vào danh mục vị thuốc cổ truyền thiết yêu ban hành kèm theo thông tư 19/2018/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y(ngày 30/8/2018).
Cẩu tích thuộc danh mục nhóm IIA (các loài thực vật hoang dã hiện chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có thể sẽ bị tuyệt chủng, nếu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật những loài này khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại không được kiểm soát) quy định tại Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ- CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Cẩu tích nằm trong danh sách “100 loại cây dược liệu có giá trị y tế và kinh tế cao để tập trung phát triển giai đoạn 2020-2030” ban hành kèm theo Quyết định số 3657/QĐ- BYT ngày 20/8/2019 của Bộ Y.
Tại biên bản xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính số 153/BB-XĐGT ngày 23/5/2024 của hội đồng định giá Hạt kiểm lâm huyện Đ xác định: 960kg củ Cẩu tích trị giá 5.760.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
2
Vật chứng thu giữ: 960kg Củ cẩu tích còn tươi khi thu giữ. Ngày 05/6/2024 Hạt kiểm lâm huyện Đ đã bàn giao vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và tiến hành mở niêm phong cân xác định củ Cẩu tích có khối lượng là 813kg (do để lâu đã bị khô, héo nên khối lượng bị hao hụt so với ban đầu); 01 cân hiệu Nhơn Hòa; 01 xe ô tô biển kiểm soát 68C-034.99 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, Đ mượn của anh Lường Văn H, trú tại bản Co Nỏng, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên, anh H không biết việc bị can sử dụng xe vào việc phạm tội.
Ngày 16/8/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 26 bao Cẩu tích có tổng khối lượng 647kg.
Bản cáo trạng số: 154/CT-VKS-HĐB ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Tòng Văn Đ về tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 36; điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 99, 100 Luật thi hành án hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Tòng Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản", mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Tòng Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Tòng Văn Đ phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
* Áp dụng khoản 3 Điều 36 và khoản 4 Điều 234 Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Tòng Văn Đ.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 26 bao Cẩu tích có tổng khối lượng 647kg (tại thời điểm xét xử sơ thẩm) và 01 cân hiệu Nhơn Hòa;
Trả lại cho anh Lường Văn H, trú tại bản C, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên 01 xe ô tô biển kiểm soát 68C-034.99 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô.
* Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
3
lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tòng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đồng ý và không tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Tòng Văn Đ khai nhận: Vào ngày 09/4/2024 tại bản Cò Chạy I, xã M, huyện Đ tỉnh Điện Biên, Đ có mua củ Cẩu tích (hay còn gọi là lông cu ly) của một số người dân không quen biết với giá 2.000 đồng/1 kg với tổng trọng lượng là: 2.430 kg, sau đó Đ dùng ô tô vận chuyển lên thành phố Đ để bán, khi Đ điều khiển xe ô tô đến đường V thuộc khu vực tổ F, phường H, thành phố Đ đã bị Đ1 kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng Chi cục kiểm lâm tỉnh Đ bắt giữ. Sau đó Đ bị Đ1 kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng Chi cục kiểm lâm tỉnh Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về Hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật với số tiền phạt là 15.000.000 đồng, số tiền này tôi đã nộp phạt vào ngày 12/4/2024. Tiếp đó, vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 01/5/2024 tại khu vực đường Q thuộc bản Cò Chạy 1, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Tòng Văn Đ có hành vi vận chuyển trái phép 960kg củ Cẩu tích trị giá 5.760.000 đồng, thuộc danh mục nhóm IIA quy định tại Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ- CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, mục đích để bán.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
...m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một
4
trong các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Bị cáo Tòng Văn Đ là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Tòng Văn Đ về tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi vận chuyển 960kg củ Cẩu tích mang đi bán trái phép để kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Tòng Văn Đ không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0000375/QĐ-XPHC ngày 08/11/2022 của Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng, Chi cục kiểm lâm tỉnh Đ phạt tiền: 15.000.000 đồng), đến ngày 12/4/2024 Đ đã nộp phạt xong số tiền trên vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, tại nơi cư trú bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, có chính quyền địa phương xác nhận. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn và vì hám lời nên bị cáo đã phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, đồng thời giao cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo với mức hình phạt từ 01 năm đến 01năm 03 tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính, Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực
5
hiện hằng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án ..." và khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng:
Ngày 01/5/2024 tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Đ thu giữ của bị cáo Đ 960kg củ Cẩu tích; Ngày 05/6/2024 Cơ quan Hạt Kiểm Lâm bàn giao sang cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ 26 bao củ Cẩu tích, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn và bóc gỡ niêm phong cân xác định lại khối lượng bị giảm chỉ còn 813 kg.
Ngày 16/8/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bàn giao sang cho Chi cục Thi hành án huyện Điện Biên 26 bao củ Cẩu tích, khối lượng bị giảm chỉ còn 647 kg. Qua kiểm tra tình trạng củ Cẩu tích đang ẩm ướt được đóng trong 26 bao tải xác rắn màu xanh và được buộc miệng kín bằng dây nilon (Nguyên nhân giảm khối lượng vật chứng củ Cẩu tích là do khi cơ quan Hạt kiểm lâm thu giữ của Cẩu tích còn tươi,Quá trình bàn giao vật chứng giữa các cơ quan nêu trên củ Cẩu tích đã bị khô, héo nên có sự hao hụt về khối lượng so với khối lượng ban đầu).
Vì vậy, đối với 26 bao Cẩu tích có tổng khối lượng 647 kg (tại thời điểm xét xử sơ thẩm) và 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H1 loại 100kg (đã qua sử dụng); Hội đồng xét xử cần Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 68C-034.99 kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mà Đ mượn của anh Lường Văn H, anh H không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Anh H cũng đã có đơn xin lại xe ô tô, vì vậy, Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho anh H chiếc xe ô tô trên theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
[6] Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số Cẩu Tích bị thu giữ bị cáo khai mua của năm người không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
6
[7] Về vấn đề dân sự trong vụ án: Anh Lường Văn H là người cho bị cáo mượn chiếc xe ô tô biển kiểm soát 68C-034.99, kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, anh H không biết Đ mượn xe ô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Anh H đã có đơn xin lại xe ô tô và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[ 8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tòng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tòng Văn Đ phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tòng Văn Đ 01 (Một) năm Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Tòng Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M trong việc giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị cáo Tòng Văn Đ phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự.
Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
* Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 19/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Tòng Văn Đ.
* Áp dụng khoản 3 Điều 36 và khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung và Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Tòng Văn Đ.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 26 (Hai mươi sáu) bao củ Cẩu tích tên khoa học Cibotium barometz (L.)J.Sm thuộc nhóm IIA (Theo kết quả trưng cầu giám định số: 597/KHĐT-VDL ngày 21/5/2024 của Viện dược liệu Bộ Y) có tổng khối lượng 647kg (tại thời điểm xét xử sơ thẩm) và 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H1 loại 100kg (đã qua sử dụng);
Trả lại cho anh Lường Văn H 01 (Một) xe Ô tô tải biển kiểm soát: 68C-034.99; nhãn hiệu THACO, Loại xe: Tải thùng kín; Màu sơn: Trắng; Số máy J2722566; Số khung: 50AKFC053494; Số loại: FRONTIER, Dung tích: 2665;
7
Tải trọng: Hàng hóa 1250, không kiểm tra máy móc bên trong (xe đã qua sử dụng), kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 003316 cấp ngày 03/7/2015 do Công an tỉnh K cấp (đã qua sử dụng).
(Tình trạng như trong Biên bản về việc kiểm tra xác định vật chứng và giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tòng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |
8
9
Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 202/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn Đ
