|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 202/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Thành Trại.
- Ông Lê Hoài Phong.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, tranh cấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1988
Trú tại: Số A, Khu phố C, N, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Anh Lê Phú T, sinh năm 1990
Trú tại: Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Chị N có đơn xin vắng mặt, vắng mặt anh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 02 tháng 5 năm 2024, nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng N trình bày: Chị Nguyễn Hoàng N và anh Lê Phú T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào năm 2015. Hôn nhân do tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, không thể hòa hợp và do anh T không quan tâm chăm sóc vợ con. Anh chị đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Chị N và anh T sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Hoàng N yêu cầu ly hôn với anh Lê Phú T. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Minh M, sinh ngày 23/11/2015. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Lê Nguyễn Minh M, yêu cầu anh Lê Phú T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Hoàng N khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh Lê Phú T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoàng N; Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Minh M cho chị Nguyễn Hoàng N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Phú T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Hoàng N và anh Lê Phú T là quan hệ tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn là chị Nguyễn Hoàng N có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định. Bị đơn là anh Lê Phú T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng N và anh Lê Phú T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, số đăng ký 64/2015, quyển số 01/2015, ngày đăng ký ngày 20 tháng 7 năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị N và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẩn và sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Tháng 3 năm 2024, chị N có đơn xin ly hôn với anh T, sau khi Hòa giải viên hòa giải đoàn tụ, chị N đã rút đơn xin ly hôn với anh T để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Tuy nhiên, đến ngày 02/5/2024 chị N đã nộp lại đơn xin ly hôn. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hoàng N và anh Lê Phú T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Minh M, sinh ngày 23/11/2015. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Lê Nguyễn Minh M, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy, Lê Nguyễn Minh M hiện đang do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và Minh M có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của Minh M nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, để chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Lê Nguyễn Minh M.
[5] Xét yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con, tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Anh Nguyễn Phú T đang cư trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang thuộc vùng 2 theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ. Chị Nguyễn Hoàng N yêu cầu anh Lê Phú T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Xét mức yêu cầu cấp dưỡng này của chị N là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc anh Lê Phú T cấp dưỡng nuôi con chung Lê Nguyễn Minh M mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi Lê Nguyễn Minh M thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng N.
- · Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng N được ly hôn với anh Lê Phú T.
- · Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Minh M, sinh ngày 23/11/2015 cho chị Nguyễn Hoàng N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Lê Phú T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Lê Nguyễn Minh M mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Nguyễn Minh M thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Anh Lê Phú T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- · Về án phí:
Chị Nguyễn Hoàng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011321 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nên chị Nguyễn Hoàng N đã nộp xong án phí.
Anh Lê Phú T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Kim Hằng |
Bản án số 202/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 202/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án hôn nhân Nguyễn Hoàng N và Lê Phú T
