|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 202/2025/HS-ST Ngày: 25 - 11 -2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Phương;
Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 229/2025/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc Thành N, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD: [...]; nơi cư trú: 23 đường C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Giao hàng; con ông Nguyễn Ái Q và bà Nguyễn Thị L, chưa có vợ và con; tiền án: 01 tiền án về tội Cưỡng đoạt tài sản. Bị Toà án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 24 tháng tù giam, chấp hành tại trại Giam M1. Chấp hành xong và được trả tự do vào ngày 14/12/2024, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/07/2025 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Bà Phí Đặng Như Q1, sinh năm 2008 nơi cư trú: 41/17 đường A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người cơ quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp F, xã K, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; nơi cư trú: B, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc Thành N làm nghề giao hàng và sinh sống tại địa chỉ: Số B đường C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/7/2025, N dùng tài khoản Facebook tên “Minh K” kết bạn nhắn tin với tài khoản có tên "Phí Đặng Như Q1" do Phí Đặng Như Q1, sinh năm 2008, nơi đăng ký thường trú: Số D đường A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký sử dụng.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/7/2025, N nhắn tin trò chuyện và hẹn chị Q1 đến khách sạn "Hoàng M" địa chỉ: Đường P, khu phố B, phường D,Thành phố Hồ Chí Minh để gặp mặt. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N bắt xe G đi từ nhà đến khách sạn “Hoàng M” thuê và nhận phòng 102, N vào phòng 102 chờ khoảng 01 tiếng đồng hồ thì chị Q1 đến vào phòng 102 cùng N. Khi chị Q1 vào trong phòng 102 thì N kêu chị Q1 đi tắm. Khi Q1 vào nhà tắm, lúc này N nhìn thấy chìa khóa xe mô tô của chị Q1 để trên giường nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị Q1. N đi đến lấy chìa khóa xe mô tô của chị Q1 rồi đi xuống nhà xe của khách sạn, N bấm nút trên chìa khóa xe thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng hồng biển số: 69AM-142.53 phát lên tín hiệu, N biết đây là xe mô tô của chị Q1 nên đi đến sử dụng chìa khóa mở khóa và khởi động xe điều khiển đi về nhà của N cất giấu xe.
Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 20/7/2025, tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H, kiểm tra địa chỉ: Số B đường C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra phát hiện N, Phạm Văn N1, Thái Văn L1 và Nguyễn Thị Thanh H có biểu hiện sử dụng ma túy, đồng thời phát hiện xe mô tô biển số 69AM-142.53 do N1 đã chiếm đoạt của chị Q1 nên đưa N1, Phạm Văn N1, Thái Văn L1 và Nguyễn Thị Thanh H về Công an phường T làm việc. Qua xét nghiệm ma túy đối với N1, Phạm Văn N1, Thái Văn L1 và Nguyễn Thị Thanh H tất cả đều dương tính với chất ma túy. Tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H tiến hành lập biên bản chuyển hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý, đồng thời chuyển N1 và xe mô tô biển số 69AM-142.53 cho Công an phường D, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG-HĐ ĐGTS ngày 13/10/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda; kiểu dáng Vision (màu trắng hồng); số khung RLHJK034XPZ416320; số máy JK03E6227839; biển số 69AM-142.53 trị giá 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).
Tang vật chứng thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda; kiểu dáng Vision (màu trắng hồng); số khung RLHJK034XPZ416320; số máy JK03E6227839; biển số 69AM-142.53. Qua xác minh xe mô tô trên của chị Đặng Thị Đ, sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: ấp F, xã K, tỉnh Cà Mau (mẹ ruột của Phí Đặng Như Q1) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 17/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại xe cho bà Đặng Thị Đ.
Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS-KV 16 ngày 11/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nhân từ 01 năm 03 tháng tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda; kiểu dáng Vision (màu trắng hồng); số khung RLHJK034XPZ416320; số máy JK03E6227839; biển số 69AM-142.53. Qua xác minh xe mô tô trên của bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: ấp F, xã K, tỉnh Cà Mau (mẹ ruột của Phí Đặng Như Q1) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 17/10/2025, Cơ quan Sảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại xe cho chị Đặng Thị Đ nên Kiểm sát viên không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại, phía bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Kiểm sát viên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) đã khởi tố điều tra xử lý theo quy định của pháp luật nên Kiểm sát viên không đề cập xử lý.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn dân sự, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 19/7/2025 tại khách sạn "" địa chỉ: Đường P, khu phố B, phường D,Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Quốc Thành N lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 69AM-142.53 của bà Phí Đặng Như Q1 mang về nhà đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 20/7/2025 thì bị phát hiện bắt giữ. Tài sản bị cáo trộm cắp trị giá 21.000.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 03/7/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2024. Đến ngày 20/7/2025 bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp phạm tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã thu hồi trả lại chủ sở hữu nên không bị thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[8] Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) đã khởi tố điều tra để xử lý trong vụ án khác là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 46, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Quốc Thành N.
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Thành N năm 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/07/2025.
2. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Quốc Thành N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.
3. Về quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |
Bản án số 202/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 202/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Thành N- Trộm cắp tài sản- K1 Điều 173
