Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

———————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 202/2025/HNGĐ -ST

Ngày: 24-11-2025.

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công,

Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 228/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 08 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 116/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ Q, sinh năm 1985; nơi cư trú: 2 khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trịnh Tiến D, sinh năm 1978; nơi cư trú: 2 khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị lệ Q trình bày:

Bà Trần Thị Lệ Q và ông Trịnh Tiến D tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T tỉnh Đồng Nai) theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 24, quyển số 01/2008 cấp ngày 07/4/2008.

Sau khi kết hôn, chúng tôi sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn hay cãi vã, vợ chồng sống không hạnh phúc. Hiện nay, nhận thấy cuộc sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Q yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là Trịnh Trần Khánh M, sinh ngày 06/01/2009 và Trịnh Chí N, sinh ngày 08/7/2013. Tại đơn kiện, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo ý kiến, yêu cầu của mình, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ: CCCD (bản sao chứng thực); Đơn từ chối hoà giải; Bảng tường trình; Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai sinh cháu Trịnh Trần Khánh M và Trịnh Chí N (bản sao); Thông báo về kết quả giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Trịnh Tiến D: Ông D đã được Tòa án tống đạt, hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng ông D không đến toà án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân khu vực số A, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành chưa đúng các quy định tại các Điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

Về mặt nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bà Q và ông D đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung giao cháu Trịnh Trần Khánh M, sinh ngày 06/01/2009 và Trịnh Chí N, sinh ngày 08/07/2013 cho bà Trần Thị Lệ Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực số A, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Trần Thị Lệ Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trịnh Tiến D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Q và ông D tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T tỉnh Đồng Nai), theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 24, quyển số 01/2008, cấp ngày 07/04/2008 là đúng quy định về đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Bà Q thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng chỉ một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi nhau, không có tiếng nói chung, tình cảm không còn.

Xét thấy, trong hôn nhân vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau về mọi mặt để xây dựng hạnh phúc gia đình. Mặc dù trong cuộc sống vợ chồng không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột nhưng vợ chồng phải tìm cách giải quyết, hàn gắn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông D về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Q, các thông báo và triệu tập để hòa giải, xét xử nhưng ông D không đến Toà và cũng không có phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q, mặc dù ông đã nhận được các giấy triệu tập của Toà án, cho thấy ông D không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định tình trạng mâu thuẫn giữa bà Q và ông D đã đến mức trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Q yêu cầu được ly hôn với ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà Q xác định trong quá trình chung sống có 02 con chung là Trịnh Trần Khánh M, sinh ngày 06/01/2009 và Trịnh Chí N, sinh ngày 08/7/2013. Xét thấy, quá trình tố tụng bà Q yêu cầu được nuôi 02 con chung, ông D không đến Toà án để làm việc, nguyện vọng của các cháu muốn sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà Q nuôi để đảm bảo quyền lợi cho các cháu.

Về cấp dưỡng: Hiện tại bà Q tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Toà án không giải quyết.

[4] Tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Lệ Q đối với bị đơn ông Trịnh Tiến D về việc” ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ Q được ly hôn với ông Trịnh Tiến D.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 24, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T tỉnh Đồng Nai) cấp cho bà Trần Thị Lệ Q và ông Trịnh Tiến D ngày 07/4/2008 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trịnh Trần Khánh M, sinh ngày 06/01/2009 và Trịnh Chí N, sinh ngày 08/7/2013 cho bà Trần Thị Lệ Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Bà Trần Thị Lệ Q tự nguyện không yêu cầu ông Trịnh Tiến D cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Lệ Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007055 ngày 01/8/2025 của thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh
  • Đồng Nai (nay là xã Thống Nhất tỉnh Đồng Nai);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2025/HNGĐ -ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 202/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger