Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 202/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dương, ông Lê Trung
  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chúc E; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/9/2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Không đăng ký thường trú; Nơi cư trú: Không nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết đọc, viết; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Ú và bà Dương Thị Ú1; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1969; Nơi cư trú: 3C7/1 ấp C, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Tạ Văn K, sinh năm 1990 – Chủ hộ kinh doanh nhà nghỉ K1. Nơi cư trú: 215 ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 31/01/2024 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B kết hợp Công an xã P, huyện B tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Chúc E khi đứng trước quầy lễ tân của khách sạn G (điạ chỉ: E tổ H, Ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh). Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong túi áo khoác bên trái phía trước của Nguyễn Chúc E đang mặc có 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn không màu mà Nguyễn Chúc E khai nhận là ma túy đá, mục đích cất giữ để bán lại cho người khác để kiếm lời. Do đó, lực lượng Công an lập biên bản phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời đưa Nguyễn Chúc E cùng toàn bộ tang vật về trụ sở tiếp tục làm rõ.

Đến 17 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục khám xét chỗ ở của Nguyễn Chúc E tại Phòng số 202 của Khách sạn K2 (địa chỉ B ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An) thu giữ thêm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bóp da màu nâu; 01 cân điện tử; 01 hủ nhựa có chữ CoolAir bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 hộp giấy có chữ KING; 05 túi nylon; 01 quẹt gas; 02 kéo bằng kim loại; 02 ống hút nhựa một đầu cắt nhọn.

Tại bản kết luận giám định số 2188/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K3 Công an thành phố H kết luận:

  • Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong qua giám định có khối lượng 1,4723g là ma túy ở thể rắn, loại !R57C6 \a\t \u \* MERGEFORMAT Methamphetamine
  • Gói 02: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong qua giám định có khối lượng qua giám định có khối lượng 0,2160g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Chúc E khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 31/01/2024, Nguyễn Chúc E đang ở Phòng số 202, địa chỉ B Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì có người tên M (không rõ lai lịch; sử dụng số điện thoại 0765.723.xxx) gọi vào điện thoại số 0879.861.xxx của Nguyễn Chúc E đặt mua nữa hộp 5 ma túy đá với giá 1.300.000đ và hẹn giao ma tuý tại khách sạn G (địa chỉ: E tổ H, Ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau đó, Nguyễn Chúc E điện thoại cho Q (không rõ nhân thân lai lịch) mua nữa hộp 5 ma túy đá với giá 1.000.000 đồng và hẹn giao ma túy tại đầu hẻm khách sạn K2. Sau khi mua ma túy xong, Nguyễn Chúc E bỏ ma túy cất vào túi áo khoác bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 59N3-531.19 đến khách sạn G để giao cho người tên M, khi Nguyễn Chúc E đi bộ vào bên trong khách sạn thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với 01 gói ma túy đá mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ khi khám xét thì Nguyễn Chúc E khai nhận: Ngày 30/01/2024 có một người tên P (không rõ lai lịch) điện thoại cho Nguyễn Chúc E để mua ma túy đá, 12 số với giá 700.000 đồng và sau đó Nguyễn Chúc E gọi điện thoại mua ma tuý của Q (không rõ nhân thân lai lịch), 14 số với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Nguyễn C Em lấy ra một ít (02 số ma túy) cho vào 01 gói nylon rồi bỏ vào hộp có chữ Cool Air nhằm mục đích để bán lại với giá 200.000 đồng, số ma túy còn lại Nguyễn Chúc E bán cho người tên P tại đầu hẻm khách sạn K2.

Tại bản cáo trạng số 222/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Chúc E về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với việc Nguyễn Chúc E khai nhận đã mua bán ma túy nhiều lần, quá trình điều tra chỉ có lời khai của bị cáo vì vậy chưa đủ căn cứ xử lý Nguyễn Chúc E theo tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.

Đối với người tên Q, tên P và tên M là những người mua, bán ma tuý với Nguyễn Chúc E. Do những người này không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc E từ 04 năm đến 05 năm tù; phạt bổ sung 10.000.000 đồng
  • - Vật chứng thu giữ:
    • + Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 02 gói ma tuý; 01 hộp giấy có chữ KING; 05 túi nylon rỗng; 01 hủ nhựa có chữ Cool A; 02 ống hút nhựa một đầu được cắt nhọn; 02 kéo bằng kim loại; 01 bóp da màu nâu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 hột quẹt ga thu giữ của bị cáo Nguyễn Chúc E.
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI có Imei: 862836038712935 cùng 01 sim mang số thuê bao 0879.861.480.
    • + Trả cho ông Trần Thanh S 01 xe máy biển số 59N3-531.19 có số khung: RLHJK0309MY049683 và số máy: JK03E0055772.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Chúc E thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Chúc E khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 31/01/2024 tại khách sạn G (điạ chỉ E tổ H, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh) cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo Nguyễn Chúc E đang cất giấu 01 gói nylon chứa chất ma tuý. Đồng thời, cơ quan công an tiếp tục khám xét chỗ ở của Nguyễn Chúc E tại Phòng số 202 của Khách sạn K2 (địa chỉ B ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An) thu giữ thêm 01 gói nylon chứa ma tuý. Căn cứ kết luận giám định của Phòng K3 Công an Thành phố H thì tinh thể không màu trong 02 gói nylon thu giữ của Nguyễn Chúc E là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6883 (một phẩy sáu tám tám ba) gam, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận cất giấu số ma tuý bị thu giữ nhằm bán lại cho người khác để hưởng lợi bất chính. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Chúc E đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, tại cơ quan điều tra bị cáo còn khai trước đó bị cáo đã nhiều lần mua, bán ma túy cho người khác nhưng không xác định được thời gian, địa điểm, khối lượng, chủng loại ma túy và không xác định được người mua ma túy nên chưa đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội mua bán từ hai lần trở lên.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ pháp luật cấm mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Chúc E đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma tuý nhằm hưởng lợi bất chính nhưng không xác định số tiền bị cáo đã hưởng lợi bất chính để buộc bị cáo sung nộp vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[5] Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai cáo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án thu giữ gồm:

[6.1] Đối với các gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Chúc E (Sau giám định đã được niêm phong trong 01 bìa thư, bên ngoài có ghi vụ số 714/24 gói 1 và hình dấu Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và 01 bìa thư, bên ngoài có ghi vụ số 714/24 gói 2 và hình dấu Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); 01 hộp giấy có chữ KING; 05 túi nylon rỗng; 01 hủ nhựa có chữ Cool A; 02 ống hút nhựa một đầu được cắt nhọn; 02 kéo bằng kim loại; 01 bóp da màu nâu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 hột quẹt ga. Xét thấy, các vật chứng này là vật cấm tàng trữ, mua bán, lưu hành và không có giá trị sử dụng hoặc có liên quan đến tội phạm nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI có Imei: 862836038712935 cùng 01 sim mang số thuê bao 0879861480 thu giữ của Nguyễn Chúc E. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Chúc E đều khai nhận bị cáo đã sử dụng tài sản này để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, làm phương tiện phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước vật chứng này.

[6.3] Đối với 01 xe máy biển số 59N3-531.19 có số khung: RLHJK0309MY049683 và số máy: JK03E0055772. Cơ quan điều tra xác minh xe trên do ông Trần Thanh S ngụ tại số C Ấp C, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Tại cơ quan điều tra ông Trần Thanh S trình bày: khoảng cuối tháng 1 năm 2024 ông Trần Thanh S có cho Nguyễn Chúc E (là con của vợ sau) mượn xe này để đi công việc, ông Trần Thanh S không biết Nguyễn Chúc E sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Ông Trần Thanh S có yêu cầu nhận lại tài sản nên trả xe này cho ông Trần Thanh S.

[7] Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • * Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • * Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc E 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Chúc E 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Về vật chứng:

  • + Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói ma tuý thu giữ của Nguyễn Chúc E (Sau giám định đã được niêm phong trong 01 bìa thư, bên ngoài có ghi vụ số 714/24 gói 1 và hình dấu Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và 01 bìa thư, bên ngoài có ghi vụ số 714/24 gói 2 và hình dấu Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); 01 hộp giấy có chữ KING; 05 túi nylon rỗng; 01 hủ nhựa có chữ Cool A; 02 ống hút nhựa một đầu được cắt nhọn; 02 kéo bằng kim loại; 01 bóp da màu nâu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 hột quẹt ga.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI có Imei: 862836038712935 cùng 01 sim mang số thuê bao 0879861480.
  • + Trả cho ông Trần Thanh S 01 xe máy biển số 59N3-531.19 có số khung: RLHJK0309MY049683 và số máy: JK03E0055772.

(Tất cả vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 09/7/2024 giữa công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an H. Bình Chánh;
  • - VKSND H. Bình Chánh;
  • - THA dân sự H.Bình Chánh;
  • - PC 53- Công an TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 202/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chiêu Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger