Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/HS-ST

Ngày 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đăng Cường.

Bà Trần Thị Kim Nhung.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Phương Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1982, tại huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Đỗ Thị T1; có vợ là Vũ Thị T2; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 3 năm 2024 đến ngày 08 tháng 4 năm 2024; được thay thế biện pháp tạm ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 08 tháng 4 năm 2024 đến nay; hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị Y B, sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: chị Nguyễn Thùy L, 27 tuổi; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1) Công ty TNHH T4; địa chỉ trụ sở: số I, đường B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Cao C, Giám đốc Công ty; vắng mặt.

2) Chị Vũ Thị T2, 34 tuổi; nơi cư trú: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác (những người làm chứng): ông Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Hoài T3 và ông Trần Văn V; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là lái xe của Công ty TNHH T4 có trụ sở tại thành phố Hải Phòng. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 30/3/2024, Phạm Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35, kéo theo rơ moóc chở xi măng rời biển số 15R-120.85 đi trên đường tránh phường V theo hướng từ phường H về phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khi đi đến đoạn đường qua cầu B, thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, T điều kiển xe đi sang làn đường ngược chiều để vượt 02 xe ô tô đi phía phía trước cùng chiều. Khi xe ô tô do T điều khiển đang vượt xe cùng chiều thì phía trước bên trái ba đờ xốc đầu kéo do T điều khiển va vào phần phía trước xe môtô biển số 14B1-891.98 do chị Nguyễn Thị Y B điều khiển đi hướng ngược chiều gây tai nạn, hậu quả làm chị Nguyễn Thị Y B bị tử vong sau khi cấp cứu.

Khám nghiệm hiện trường theo hướng phường H đi phường H xác định: đường tránh V là đường hai chiều, mặt đường bê tông nhựa, đường cong vòng trái phải, giữa đường có vạch sơn màu vàng đã mờ, chiều rộng mặt đường là 10,7 mét. Trước vị trí xảy ra tai nạn bên phải đường có đặt biển báo DP.135 “hết tất cả các lệnh cấm”, biển W201b “chỗ ngoặt nguy hiểm” và biển “Phía trước 500m công trường”. Toàn bộ các dấu vết nằm bên trái đường và đo vào mép đường bên trái (mép đường chuẩn). Trên mặt đường có vết tỷ miết màu đen hình vòng cung hướng phường H - phường H dài 1,4m, rộng nhất 0,1 m, lưng vòng cung hướng vào tâm đường, đầu vết đo vào mép đường bên trái là 3,3m, từ lưng vòng cung đo đến mép đường chuẩn là 3,85m. Đầu vết đo về phía Hoành Bồ, chiếu vuông góc đến vị trí cột điện ký hiệu 471-481 E5.26/8 (là điểm mốc cố định) nằm trên lề đường là 9,1m. Cách điểm đầu vết tỳ miết màu đen 0,3m về phía Hoành Bồ là điểm đầu đám vết trượt xước kích thước (78,1x0,85)m hướng phường H - phường H, từ điểm đầu và cuối vết đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 3,6 m và 0,9 m. Cách điểm đầu đám vết trượt xước 02m về phía phường H là điểm đầu vết tỳ miết lốp màu đen, kích thước (2,4x0,14)m, hướng phường H - phường H, từ điểm đầu và cuối vết đo đến mép đường chuẩn đều là 3,2m. Cách điểm đầu vết tỳ miết lốp 1,56m về phía mép đường là điểm đầu đám mảnh nhựa vỡ rơi trên diện (46,5x3)m, đầu và cuối đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 1,7m và 01m. Cách điểm đầu vết tỳ miết lốp 3,5m về phường H là đám máu, đo đến mép đường chuẩn là 1,2m. Xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-120.85 đỗ, đầu xe chếch sang phải hướng phường H, đuôi xe hướng H, từ má ngoài lốp bánh trước bên trái và bánh sau cùng bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 và má ngoài lốp bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ moóc biển số 15R-120.85 đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 0,9 mét, 0 mét và 1 mét, từ đầu trục bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ moóc đo về hướng phường H đến điểm đầu đám vết trượt xước là 55,7m, điểm cuối vết trùng với vị trí xe môtô biển số 14B1-891.98 nằm đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng H, đuôi xe hướng Hoành Bồ, từ trục bánh trước và trục bánh sau xe mô tô đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 1,3 m và 0,6 m.

Khám xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 có dấu vết: phía bên trái ba đờ xốc trước bị tỳ xước, dập vỡ nhựa, bẹp móp kim loại rải rác bám dính chất màu xanh trên diện (160x58) cm, hướng trước sau, bật chốt liên kết. Phần phía trước tai xe bên trái có vết tỳ chùi mất bụi, xước sơn, bám dính chất màu đen, kích thước (54x3) cm, hướng trước sau, thấp nhất cách mặt đất 97cm. Má ngoài lốp bánh trước bên trái có vết tỳ xước rách cao su trên toàn bộ cung tròn của lốp, rộng nhất là 14cm, cùng chiều kim đồng hồ. Hệ thống lái, đèn, còi, phanh, lốp đầy đủ, có hiệu lực. Trên xe có camera hành trình ghi lại diễn biến vụ tai nạn; sơ mi rơ moóc xi téc biển số 15R-120.85 không phát hiện dấu vết va chạm.

Khám xe mô tô biển số 14B1-891.98 có dấu vết: toàn bộ phần nhựa phía trước xe gồm chắn bùn bánh trước, mặt nạ xe, cánh yếm hai bên, ốp nhựa đầu xe, cụm đèn chiếu sáng, xi nhan trước bị dập vỡ nhựa bật rời khỏi vị trí. Vành bánh trước bị cong vênh biến dạng. Toàn bộ khung xe phía trước bị cong vênh, xô lệch hướng trước sau, trái phải. Tay ghi đông bên phải bị cong gập hướng dưới lên trên, mặt dưới và đầu ngoài nắm tay cầm ghi đông bị mài xước cao su, kim loại, hướng sau trước. Giá để chân trước bên phải bị cong gập hướng sau trước, đầu giá để chân và khung kim loại bắt giá để chân bị mài xước kim loại dính chất bột màu trắng. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả và mặt ngoài ống xả bị mài xước kim loại dính chất màu trắng trên diện (52x7) cm, hướng sau trước. Hệ thống lái còn liên kết, hệ thống phanh còn đủ bộ phận và tác dụng.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 87/KLGĐTT-TTPY ngày 01/4/2024 của Trung tâm P - Sở Y, kết luận nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị Y B là do: chấn thương sọ não, dập não, mất não, chết não + Đa chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định số: 21/2024/ĐKHL ngày 23/4/2024 của Trung tâm Đăng kiểm 1404D về Kỹ thuật an toàn phương tiện của xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-120.85, kết luận:

- Xe 15C-219.35: +) Hệ thống phanh: lắp đặt chắc chắn, đúng kiểu loại, đầy đủ chi tiết kẹp chặt, phòng lỏng, các ống cứng ống mềm không bị rạn nứt, biến dạng, rò rỉ. Hệ thống phanh chính cầu A và cầu B hoạt động tốt, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, phanh chính cầu 3 bên phải kém, không đảm bảo an toàn kỹ thuật (hệ số sai lệch lực phanh cầu 3 là 95% khi kiểm tra trên thiết bị phanh MAHA tại trung tâm). Phanh đỗ cầu 2 hoạt động tốt, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, phanh đỗ cầu 3 không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật (không có tác dụng phanh đỗ trên bánh xe cầu 3 bên phải khi kiểm tra trên thiết bị phanh MAHA tại trung tâm). Không đủ căn cứ xác định phanh chính và phanh đỗ cầu 3 bên phải không đảm bảo an toàn kỹ thuật trước, trong hay sau khi tai nạn xảy ra; +) Hệ thống lái: Lắp đặt chắc chắn đúng kiểu loại, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

- Sơ mi rơ moóc xi téc 15R-120.85: hệ thống phanh: Lắp đặt chắc chắn đúng kiểu loại, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Tại Bản kết luận giám định số: 692/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q về dữ liệu điện tử thu từ camera hành trình lắp trên xe ôtô đầu kéo biển số 15C-219.35, kết luận: nội dung hình ảnh trong 04 tệp video lưu trữ trong 01 đĩa DVD cần giám định không bị cắt, ghép, chỉnh sửa.

Tại Bản kết luận giám định số: 641/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 kéo sơ mi rơ moóc biển số 15R-120.85 và xe mô tô biển số 14B1-891.98 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm giữ hai xe tại mặt ngoài, bên trái ba đờ sốc trước xe ô tô và đầu xe mô tô. Dấu vết va chạm làm trượt xước, cong vênh, biến dạng, gãy, vỡ mất nhựa, kim loại, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở mặt ngoài, bên trái ba đờ sốc trước xe đầu kéo biển số 15C-219.35, có chiều từ trước về sau; dấu vết va chạm làm trượt xước, cong vênh, biến dạng, gãy, vỡ mất nhựa, kim loại ở đầu xe môtô biển số 14B1-891.98, có chiều từ trước về sau. Vị trí va chạm giữ hai xe thuộc phần đường dành cho xe cơ giới di chuyển theo chiều từ phường H đi phường H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79/KLĐGTS ngày 26/4/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: giá trị những bộ phận bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông gây ra của chiếc xe mô tô biển số 14B1-891.98 là 6.765.000₫ (sáu triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); giá trị những bộ phận bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông gây ra của chiếc xe đầu kéo biển số 15C-219.35 là 840.000₫ (tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại Công văn số: 1843/SGTVT-QLĐTSH ngày 12/4/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh Y trả lời Công an tỉnh Q: chưa cấp Giấy phép lái xe mô tô cho chị Nguyễn Thị Y B.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai: khi đang tăng ga để vượt các xe cùng chiều, đồng thời quan sát qua gương chiếu hậu để xem thân xe của mình, bị cáo đã vượt qua hết xe tải cùng chiều hay chưa để đi về làn đường bên phải thì nghe tiếng “rầm” ngay phía trước đầu xe bên trái. Bị cáo giật mình quay lại phía trước thì thấy 01 người mặc quần áo màu đen văng sang bên trái đường và cảm thấy phía dưới đầu xe bị cáo bị mắc vật gì đó, có tiếng ma sát trên mặt đường. Bị cáo dừng xe lại, xuống gọi xe đưa người bị nạn đi cấp cứu, rồi lên xe lùi một đoạn khoảng 5-7 m để cho xe mô tô đang ở dưới gầm bật ra nhưng không được nên dừng xe lại.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 315.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra xác định xe ô tô đầu kéo biển số 15C-219.35 kéo theo sơ mi rơ moóc xi-téc biển số 15R-120 là của Công ty TNHH T4, xe môtô biển số 14B1-891.98 là của chị Nguyễn Thị Y B. Sau khi kết thúc điều tra, Công an thành phố H đã trả lại các phương tiện trên cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của họ.

Giai đoạn điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Nguyễn Thùy L, chị gái của chị B) khai: chị không trực tiếp chứng kiến vụ việc tai nạn, nhưng sau khi sự việc xảy ra, gia đình chị đã nhận được tiền bồi thường của gia đình bị cáo, gia đình chị không có ý kiến gì và chị đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, chị không tranh luận và cũng không có ý kiến gì về hình phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo.

Giai đoạn điều tra, ông Phạm Cao C, Giám đốc Công ty TNHH T4 khai: xe ôtô đầu kéo biển số 15C-219.35, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 15R-120.85 thuộc sở hữu của Công ty. Công ty có ký Hợp đồng lao động với bị cáo, trong đó quy định rõ trách nhiệm của bị cáo phải bồi thường thiệt hại khi lái xe vi phạm pháp luật gây tai nạn. Các bên đã tự nguyện thỏa thuận xong và không có ý kiến gì.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Vũ Thị T2 (vợ bị cáo) khai: chị không trực tiếp chứng kiến vụ việc tai nạn, nhưng sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có tác động đến gia đình, chị đã lấy số tiền 315.000.000 đồng là tiền chung của 02 vợ chồng ra để bồi thường cho gia đình bị hại. Chị tự nguyện sử dụng một phần tiền của mình để bồi thường thay cho bị cáo và không có ý kiến gì.

Giai đoạn điều tra, những người làm chứng - ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Hoài T3 khai báo toàn bộ nội dung sự việc mà mình được chứng kiến cơ bản như nội dung Cáo trạng đã nêu. Ông Trần Văn V khai, sau khi biết việc xảy ra tai nạn, ông đã đến Công an phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để trình báo.

Tại bản Cáo trạng số: 3021/CT-VKS-HL ngày 22 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng.

Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án: Công ty TNHH T4 là doanh nghiệp do 02 thành viên góp vốn (ông Phạm Cao C và bà Lương Thị D1) theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Phòng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạnh và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp (bút lục số 198). Thành viên chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp theo khoản 1 Điều 46 của Luật doanh nghiệp. Công ty là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo gây ra tai nạn theo Phiếu trả lời xác minh xe của Phòng C1 Công an tỉnh Q (bút lục số 223), bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra bằng số tiền cụ thể, đã được Hội đồng định giá xác định, nhưng giá trị thiệt hại nhỏ, thấp hơn quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự, Công ty cũng không có đơn yêu cầu bồi thường nên không phải là bị hại hoặc nguyên đơn dân sự, nhưng Viện kiểm sát không xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của Công ty mà xác định ông C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng quy định tại Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chị Vũ Thị T2 (vợ bị cáo) là người không có nghĩa vụ phải bồi thường, nhưng đã dùng tiền chung của vợ chồng, trong đó có phần của chị trực tiếp gặp gia đình bị hại để bồi thường thay cho bị cáo, Viện kiểm sát không đưa vào tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án triệu tập chị T2 đến phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với quy định tại Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự. Ông Trần Văn V là người phát hiện ra tội phạm, đã đến Công an phường V trình báo, nhưng Viện kiểm sát không đưa vào tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa với tư cách là người báo tin về tội phạm, người làm chứng trong vụ án là không đúng với quy định tại các điều 56 và 65 của Bộ luật tố tụng hình sự. Những thiếu sót này đã được Tòa án khắc phục kịp thời, nhưng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long cần rút kinh nghiệm.

[1.3] Về việc vắng mặt người đại hiện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và việc bồi thường thiệt hại cũng đã thực hiện xong, không có ai có ý kiến gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định các điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung truy tố:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các hình ảnh, đoạn video do trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô do bị cáo điều khiển ghi lại nội dung sự việc vào trước và trong khi xảy ra tai nạn, phù hợp với sơ đồ, bản ảnh, kết quả khám nghiệm hiện trường, dấu vết va chạm giữa hai phương tiện sau tai nạn, các kết luận giám định phương tiện và tử thi, kết luận định giá tài sản bị thiệt hại, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã nêu trên, được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ 50 phút ngày 30/3/2024, tại đoạn đường đường tránh V thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Văn T điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-219.35, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-120.85 đi theo hướng từ phường H về phường H, thành phố H là đoạn đường vòng, đã vượt các xe cùng chiều không đảm bảo an toàn, đi lấn sang phần đường ngược chiều, đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 14B1-891.98 do chị Nguyễn Thị Y B điều khiển đi hướng ngược lại, làm chị B bị tử vong, xe môtô bị hư hỏng thiệt hại 6.765.000đ (sáu triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), xe ô tô đầu kéo của Công ty TNHH T4 bị hư hỏng thiệt hại 840.000đ (tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Viện kiểm sát không xác định lỗi của bị cáo khi vượt xe lấn sang phần đường ngược chiều gây tai nạn theo Biên bản khám nghiệm và Sơ đồ hiện trường, nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng đã nêu là chưa đầy đủ.

[2.2] Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi đúng phần đường, làn đường quy định”.

Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ định: “...

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải...

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này; ...

c) Đường vòng,... và các vị trí có tầm nhìn hạn chế; ...

đ) Khi ... đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt; ...”...

Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; ...”

[2.3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý về hành vi, nhưng vô ý về hậu quả (cố ý gián tiếp), gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[2.4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại về tính mạng và tài sản của người khác, gây bức xúc và bất an cho người khác khi tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

[2.5] Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong vụ việc xảy ra, bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe tham gia giao thông đường bộ, mặc dù chỉ là vi phạm hành chính, không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn, nhưng nếu bị hại tuân thủ đúng pháp luật, không điều khiển xe mô tô ra đường tham gia giao thông thì không dẫn đến hậu quả nêu trên.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Đối với hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân tốt; ngay sau khi gây ra tai nạn đã kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu; phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục với một thời gian thử thách phù hợp, cho bị cáo có cơ hội làm việc, cải tạo, giáo dục, sữa chữa lỗi lầm, điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt. Trường hợp bị cáo vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong thời gian thử thách, thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: do bị cáo là lao động chính trong gia đình, lấy việc lái xe làm nghề tạo thu nhập chính cho bản thân và gia đình, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[4] Về bồi thường thiệt hại: Giai đoạn điều tra, các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường. Đây là quan hệ dân sự, các bên tự nguyện cam kết, thỏa thuận, không trái pháp luật, đạo đức xã hội và cũng không có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[5] Đối với người đại diện chủ sở hữu xe ô tô gây tai nạn trước đó đã giao xe cho bị cáo quản lý, sử dụng hợp pháp, đủ điều kiện đảm bảo an toàn, kỹ thuật, nên không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo bản án: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 9, các điểm a, c và đ khoản 5 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14Luật số 44/2019/QH14; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106, các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29 tháng 8 năm 2024), về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T Giấy phép lái xe số: [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 11/5/2022 cho bị cáo sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật (Giấy phép lái xe hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

3. Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người ĐDHP của bị hại;
  • những người CQLNVLQ;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - CQ điều tra, CQ Hồ sơ nghiệp vụ và
  • CQ THAHS Công an TP. Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp T. Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 202/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 10 giờ 50 phút ngày 30/3/2024, tại đoạn đường đường tránh V thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Văn T điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-219.35, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-120.85 đi theo hướng từ phường H về phường H, thành phố H là đoạn đường vòng, đã vượt các xe cùng chiều không đảm bảo an toàn, đi lấn sang phần đường ngược chiều, đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 14B1-891.98 do chị Nguyễn Thị Y B điều khiển đi hướng ngược lại, làm chị B bị tử vong, xe môtô bị hư hỏng thiệt hại 6.765.000đ (sáu triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), xe ô tô đầu kéo của Công ty TNHH T4 bị hư hỏng thiệt hại 840.000đ (tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Viện kiểm sát không xác định lỗi của bị cáo khi vượt xe lấn sang phần đường ngược chiều gây tai nạn theo Biên bản khám nghiệm và Sơ đồ hiện trường, nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng đã nêu là chưa đầy đủ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger