|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 202/2024/DS-PT Ngày: 20/5/2024. V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Quyến
2/ Bà Phan Thị Tuyết Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 616/2023/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 591/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lâm Văn K, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số A, Khu dân cư M, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 15/11/2022); Có mặt.
-
Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1963.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phan Thị Thanh T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số A, đường L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. (Hợp đồng ủy quyền ngày 19/01/2021); Có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1917.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Có đơn xin vắng mặt.
3.2. Bà Lê Thị P1, sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
3.3. Ông Nguyễn Trung M, sinh năm 1966.
Đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Trung M1: Bà Phan Thị Thanh T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số A, đường L, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ (Hợp đồng ủy quyền ngày 19/01/2021); Có mặt.
3.4. Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Khu V T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Có đơn xin vắng mặt)
3.5. Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1998.
Đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố C hơ; Có đơn xin vắng mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Đào Văn H1, sinh năm 1967.
4.2. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1965.
4.3. Ông Lê Văn Ú, sinh năm 1949.
Cùng cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Cùng có đơn xin vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/8/2020, bản tự khai đề ngày 06/12/2020, 30/5/2022, 03/8/2023 và quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Ông có phần đất diện tích 145m² loại đất T, thuộc thửa số 333, tờ bản đồ số 01. Đất tọa lạc khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Phần đất được Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 ngày 22/4/1991 do ông đứng tên sử dụng.
Nguồn gốc phần đất này do cha mẹ ông tặng cho trước năm 1991. Ông đã canh tác ổn định đến năm 2003, bà C có hỏi cha ruột ông là ông Nguyễn Văn Q xin ở nhờ. Sau đó, cha ông có hỏi ý kiến ông và ông đồng ý vì chỗ bà con cô cậu, bà C khó khăn về chỗ ở. Khi cho mượn có giao kèo miệng chỉ được cất nhà tạm và khi nào cần thì bà C trả lại. Năm 2018, ông nhiều lần yêu cầu bà C trả lại đất nhưng bà không đồng ý. Ông yêu cầu buộc bà Trần Thị C cùng những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trên đất tháo dỡ căn nhà bán kiên cố trả lại phần đất đã cho mượn diện tích là 145m² loại đất T, thửa số 333, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 do UBND huyện Ô (cũ) cấp ngày 22/4/1991.
Sau đó Tòa án nhân dân quận Ô Môn có tiến hành đo đạc, thẩm định và định giá lại tài sản tranh chấp. Theo kết quả đo đạc tại Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện phần đất tranh chấp có diện tích 122,2m². Ông thống nhất với Bản trích đo địa chính số 527. Do diện tích đo đạc thực tế có biến động so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay ông yêu cầu buộc bà Trần Thị C cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trên đất tháo dỡ căn nhà bán kiên cố trả lại phần đất đã cho mượn diện tích đo đạc thực tế là 122,2m² loại đất T, thửa số 333 theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023. Ông thống nhất kết quả định giá theo Biên bản định giá ngày 04/8/2022 và yêu cầu phía bà C trả đất. Ông yêu cầu áp dụng mức giá nhà nước để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại bản tự khai đề ngày 08/12/2020, đơn phản tố đề ngày 18/3/2021, bản tự khai đề ngày 18/3/2021, đơn yêu cầu độc lập đề ngày 24/7/2023, bản tự khai đề ngày 03/8/2023 và quá trình giải quyết, bị đơn bà Trần Thị C và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung M (có chị Phan Thị Thanh T là đại diện theo ủy quyền) thống nhất trình bày:
Nguyên vào năm 1993, bà C và ông Nguyễn Trung M có nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 192 m² (ngang khoảng: 12m x dài khoảng 16m) với số vàng là 04 chỉ vàng 24k. Khi mua đất ông Nguyễn Văn Q là người trực tiếp đứng ra bán và nhận vàng cũng như giao đất cho ông bà. Do ông Q là cậu ruột của ông bà nên khi chuyển nhượng chỉ thỏa thuận miệng, có người làm chứng ông Đào Văn H1 chứng kiến. Sau khi nhận chuyển nhượng xong ông bà đã xây dựng nhà trên đất và ở từ trước đến nay.
Rất nhiều lần ông bà đề nghị ông Q lập thủ tục tách thửa sang tên cho ông bà nhưng ông Q hẹn mà không thực hiện nghĩa vụ sang tên cho ông bà, sự việc này ông bà có làm đơn khiếu nại năm 2008 gửi Ủy ban nhân dân phường H3, tại Biên bản hòa giải ngày 06/01/2009 ông Q thừa nhận có bán đất cho ông bà, nội dung như sau: “Chờ con tôi làm giấy chứng nhận QSDĐ xong tôi hứa ký tên tách bộ cho ông Nguyễn Trung M1 đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ tôi đã bán”, sau đó ông bà có nộp đơn khởi kiện tại Tòa án quận Ô năm 2008, nhưng do thủ tục chưa đầy đủ nên Tòa án chưa cho thụ lý đơn khởi kiện của ông bà. Thế nhưng không hiểu lý do nào gần đây ông Nguyễn Văn P là con của ông Q làm đơn khởi kiện ông bà đòi lại phần đất nêu trên.
Xét thấy việc ông Q đã bán phần đất trên cho ông bà, ông Q đã nhận đủ vàng và đã giao đất cho ông bà sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 nay ông Q lại để cho con ruột đứng tên khởi kiện ông bà đòi lại đất cho ở nhờ là trái quy định pháp luật. Hơn nữa phần đất này ông bà đã xây dựng nhà trên đất từ năm 1993
đến nay gần 30 năm, gia đình ông Q không hề có một động thái nào đòi lại đất hay khiếu nại về việc ông bà xây nhà trên đất. Do vậy, căn cứ vào Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ông bà có yêu cầu như sau:
- Ổn định phần diện tích đất 192 m², tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo thỏa thuận giữa ông bà và ông Nguyễn Văn Q theo quy định pháp luật.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Ô thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 cấp ngày 22/04/1991 tại thửa 333, tờ bản đồ số 01 của ông P đối với một phần thửa đất. Đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 192 m², tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ cho bà C và ông M.
Tuy nhiên xét thấy quá trình sử dụng đã bị sạt lỡ, đường được nâng cấp nới rộng ra nên diện tích thực tế đang sử dụng còn lại là 122,2m². Bà C và ông M thống nhất kết quả đo đạc theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 và kết quả định giá theo Biên bản định giá ngày 04/8/2022. Bà C và ông M yêu cầu áp dụng mức giá nhà nước để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Nay bà C và ông M yêu cầu như sau:
- Ổn định phần diện tích đất 122,2m² theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận Ô thu hồi phần đất tại thửa 333 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 cấp ngày 22/04/1991 cấp cho ông P để cấp lại cho bà C và ông M.
Tại bản tự khai đề ngày 04/8/2022, 03/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P1 trình bày:
Bà là vợ của ông Nguyễn Văn P. Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông P. Bà thống nhất với kết quả đo đạc theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 và kết quả định giá theo Biên bản định giá ngày 04/8/2022. Yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 04/8/2022 và quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ông là cha ruột của ông Nguyễn Văn P là cậu ruột của bà Trần Thị C, ông Nguyễn Trung M là chồng của bà C. Ông không có mâu thuẫn gì với ông P, bà C và ông M. Theo trình bày của bà C và ông M: Vào năm 1993 có nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 192m² (ngang khoảng 12m x dài khoảng 16m) với số vàng 04 chỉ vàng 24k thì ông không biết, không nhận vàng, cũng không có đất để bán. Việc khởi kiện của hai bên ông không có ý kiến, không có yêu cầu gì khác. Do
lớn tuổi đi lại khó khăn nên đề nghị vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ gì khác.
Tại bản tự khai đề ngày 20/7/2023, Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 20/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, Người làm chứng ông Đào Văn H1 khai:
Ông là hàng xóm của vợ chồng ông Nguyễn Trung M, bà Trần Thị C và ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn P. Ông biết vợ chồng ông M bà C về cất nhà cây lá ở trên đất đang tranh chấp từ năm 1991, đến năm 1992 thì nghe nói ông M bà C mua đất của ông Q xong thì ông thấy ông M bà C cất nhà xây tường lót gạch trên đất đang tranh chấp từ đó đến nay. Việc vợ chồng ông M bà C có mua đất của ông Q do ông ở gần nhà của hai bên nên ông biết việc này, còn mua diện tích đất với giá tiền vàng thì ông nghe nói là mua phần đất đang ở với giá là 04 chỉ vàng 24k, ông không có chứng kiến việc mua bán và giao vàng của hai bên.
Gia đình ông M bà C đã xây nhà ở trên 30 năm nhưng đến nay thì ông mới nghe nói là ông P (con ông Q) khởi kiện bà C đòi lại đất gia đình bà C đang ở. Ông sống tại địa phương từ nhỏ đến nay, ông không có mâu thuẫn gì với các bên, sự việc như thế nào thì ông trình bày cho Tòa án xem xét. Ngoài ra ông không trình bày gì thêm. Do lớn tuổi nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử tại Tòa án.
Tại bản tự khai đề ngày 20/7/2023, Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 20/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, Người làm chứng ông Nguyễn Văn H2 khai:
Ông là hàng xóm của vợ chồng ông Nguyễn Trung M, bà Trần Thị C và ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn P. Ông biết vợ chồng ông M bà C về cất nhà cây lá ở trên đất đang tranh chấp từ năm 1991, đến năm 1992 thì nghe nói ông M bà C mua đất của ông Q xong thì ông thấy ông M bà C cất nhà xây tường lót gạch trên đất đang tranh chấp từ đó đến nay. Việc vợ chồng ông M bà C có mua đất của ông Q1 do ông ở gần nhà của hai bên nên ông biết việc này, còn mua diện tích đất với giá tiền vàng thì ông nghe nói là mua phần đất đang ở với giá là 04 chỉ vàng 24k, ông không có chứng kiến việc mua bán và giao vàng của hai bên.
Gia đình ông M bà C đã xây nhà ở trên 30 năm nhưng đến nay thì ông mới nghe nói là ông P (con ông Q) khởi kiện bà C đòi lại đất gia đình bà C đang ở. Ông sống tại địa phương từ nhỏ đến nay, ông không có mâu thuẫn gì với các bên, sự việc như thế nào thì ông trình bày cho Tòa án xem xét. Ngoài ra ông không trình bày gì thêm. Do lớn tuổi nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử tại Tòa án.
Tại bản tự khai đề ngày 20/7/2023, Biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 20/7/2023 và quá trình giải quyết vụ án, Người làm chứng ông Lê Văn Ú khai:
Ông biết vào khoảng năm 1992 vợ chồng ông Nguyễn Trung M và bà Trần Thị C có mua một phần đất thổ cư của ông Nguyễn Văn Q có diện tích 192m²
(ngang 12m, dài 16m) với giá 04 chỉ vàng 24k. Kể từ đó gia đình ông M bà C đã xây nhà kiên cố ở cho đến nay nhưng không hiểu lý do gì ông Nguyễn Văn P (con ông Q) làm đơn khởi kiện bà C đòi lại diện tích khoảng 100m², trả lại phần đất đã cho mượn diện tích 145m². Phần đất ông M bà C đã sử dụng ổn định, không ai tranh chấp trên 30 năm, con ông Q khởi kiện là chưa phù hợp.
Ông là hàng xóm của vợ chồng ông M bà C và ông Q, ông P. Ông biết vợ chồng ông M bà C về ở trên đất từ năm 1991, đến năm 1992 thì mua đất của ông Q xong thì cất nhà ở từ đó đến nay. Việc vợ chồng ông M bà C có mua đất của ông Q1 do ông ở gần nhà của hai bên nên ông biết việc này, còn mua diện tích đất với giá tiền vàng thì ông nghe nói là mua phần đất đang ở với giá là 04 chỉ vàng 24k. Ông sống tại địa phương từ nhỏ đến nay, ông không có mâu thuẫn gì với các bên, sự việc như thế nào thì ông trình bày cho Tòa án xem xét. Ngoài ra ông không trình bày gì thêm. Do lớn tuổi nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử tại Tòa án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị C. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung M.
Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 122,2m² (loại đất T) và tài sản trên đất tại thửa 333 theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho bà Trần Thị C và ông Nguyễn Trung M được toàn quyền sử dụng.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và điều chỉnh diện tích sử dụng.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất theo thực trạng.
(Gửi kèm Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền/nghĩa vụ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chi phí tố tụng về thẩm định định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 09/10/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm “Sửa án sơ thẩm” theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Phía nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu về kháng cáo, khởi kiện.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan cho thấy: Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các đương sự tranh chấp về quyền sử dụng đất, trong đó: bị đơn cư trú và bất động sản tranh chấp tọa lạc tại địa giới hành chính quận Ô nên Tòa án nhân dân quận Ô Môn lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu kháng cáo của đương sự:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện các tài liệu chứng cứ cũng như không giải quyết dứt điểm vụ án, gây thiệt thòi quyền lợi cho nguyên đơn nên kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm “Sửa án sơ thẩm” theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P cho rằng gia đình bị đơn phần đất ở nhờ thuộc thửa 333, tờ bản đồ số 01, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp ngày 22/4/1991 do ông đứng tên nên khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị C, ông Nguyễn Trung M, Nguyễn Thị Thúy H và Nguyễn Văn K1 di dời nhà trả lại diện tích đất 122,2m² (loại đất T) theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Tại phiên tòa sơ thẩm, theo phía nguyên đơn phía bị đơn đã xây dựng nhà ở kiên cố nên ổn định cho phía bị đơn diện tích đất 122,2m² theo Bản trích đo địa chính nên yêu cầu trả giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường theo Biên bản định giá ngày 30/8/2023.
Theo đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập và quá trình giải quyết, bà Trần Thị C và ông Nguyễn Trung M cho rằng: đã nhận chuyển nhượng phần đất này từ cha nguyên đơn nên yêu cầu được ổn định diện tích đất đang sử dụng đo đạc thực tế là 122,2m² theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023.
Xét thấy:
Thứ nhất, về diện tích đất:
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn P vào ngày 22/4/1991 tại thửa số 333 là 145m², khi đo đạc thực diện tích là 122,2m² (Loại đất T) theo Bản trích đo địa chính; Sau khi cấn trừ tổng diện tích thì diện (chênh lệch thiếu là 22,8m²). Tuy nhiên, xét việc cấp Giấy trên cơ sở kê khai cấp Giấy đại trà, không tiến hành đo đạc thực tế (không có Biên bản ranh giới, mốc giới thửa đất) và biến động tự nhiên trong quá trình sử dụng đất nên là căn cứ Tòa án xem xét theo diện tích thực tế 122,2m² để giải quyết trong vụ án.
- Thứ hai, về yêu cầu của đương sự:
Xét cùng vấn đề nhưng các bên có những lời trình bày và yêu cầu khác nhau (giữa nguyên đơn, bị đơn và người liên quan) nên cần đánh giá toàn diện và xem xét lồng ghép lẫn nhau trong tổng thể tình tiết của vụ án.
Cụ thể:
Nguyên đơn cho rằng bị đơn bà C có hỏi cha ông là Nguyễn Văn Q ở nhờ nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ về việc ở nhờ; bị đơn không thừa nhận ở nhờ mà cho rằng mua của ông Q (cha nguyên đơn) và cung cấp các tài liệu, chứng cứ: Giấy xác nhận (V/v có mua đất) ngày 30/12/2008, Biên bản hòa giải cơ sở ngày 06/01/2009, Đơn xin ngăn chặn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/01/2009, Biên bản hòa giải (lần 1) về việc ngăn chặn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/02/2009.
+ Một là, xét thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn:
Trích lục hồ sơ địa chính thể hiện: ông P đã được ghi nhận trong Sổ mục kê, Sổ đăng ký ruộng đất và được cấp quyền theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000407 ngày 22/4/1991; trong đó: có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 25/3/1991, tại mục nguồn gốc chiếm dụng ruộng đất ghi nhận là “ông bà để lại”. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn thừa nhận: đất của gia đình nguyên đơn có nguồn gốc cha mẹ tạo lập (mẹ chết, cha là ông Nguyễn Văn Q), sau đó phân chia cho các con và nguyên đơn được thừa hưởng quyền sử dụng trong đó có thửa 333. Nên là cơ sở xác định: tài sản có nguồn gốc của phía ông Nguyễn Văn Q là có thật.
Xét trong thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P không thể hiện Hội đồng đăng ký đất đai Ủy ban nhân dân xã T có tổ chức công bố công khai kết quả đã xét để mọi người dân được tham gia ý kiến là có việc ông P đăng ký luôn cả phần đất gia đình bà C đang ở hay không? Hoặc ông P đã kê khai cả diện tích đất gia đình bà C đang ở, có báo với Hội đồng đăng ký đất đai là đất này đang cho ở nhờ không, để Hội đồng đăng ký đất đai thông báo và lấy ý kiến của gia đình bà C về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P theo quy định tại Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T1. Như vậy, ý kiến của ông P về việc cho bà C ở nhờ không đảm bảo hai điều kiện theo hướng dẫn tại Điều 113 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ.
+ Hai là, xét về thực tế: ông Nguyễn Trung M (người liên quan) có tranh chấp với cha nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Q từ năm 2009, có đơn ngăn chặn việc cấp giấy đất cho ông P đến cơ quan có thẩm quyền và đã được giải quyết của chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân phường T (Bút lục: 109->115) nhưng chưa dứt điểm thì bị khởi kiện và giải quyết cho đến nay.
Tại Biên bản hòa giải cơ sở ngày 06/01/2009, ông Nguyễn Văn Q khai nhận: “Chờ con tôi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong tôi hứa ký tên tách bộ cho ông Nguyễn Trung M đứng tên chứng nhận quyền sử dụng đất tôi đã bán” (Bút lục: 137, 139).
Tại Biên bản hòa giải (lần 1) về việc ngăn chặn việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/02/2009, ông Nguyễn Văn Q khai nhận: “Vào năm 1993, tôi có bản cho cháu tôi tên M một miếng đất để cất nhà với giá 04 chỉ vàng 24k. Nếu ông M muốn tách QSD đất phải vào gặp vợ chồng con tôi tên là P để thỏa thuận vì Phòng đã đứng tên QSDĐ”.
Bên cạnh đó, các đương sự sinh sống gần nhau, việc gia đình bị đơn sinh sống, xây dựng, sửa chữa nhà ở và ổn định trên đất nhưng nguyên đơn không có bất kỳ sự khiếu nại hay tranh chấp gì từ những năm 1990, cho đến khi nguyên đơn thực hiện việc tranh chấp/ khởi kiện “Đòi đất cho ở nhờ” vào năm 2018 (28 năm).
Hơn nữa, xét các thửa đất số 333, 356 và 357 được cấp cho nguyên đơn theo Giấy chứng nhận cấp năm 1991; trong đó thửa 333 (tranh chấp) là thửa đất có vị trí độc lập (loại đất T), nhưng nguyên đơn không quản lý sử dụng trên thực tế suốt thời gian qua.
Không chỉ thế, quá trình tố tụng ghi nhận được lời khai của những người làm chứng gồm các ông Đào Văn H1, ông Nguyễn Văn H2 và ông Lê Văn Ú (những người sống cố cựu tại địa phương) thống nhất khai như sau: Từ thời gian các ông sinh sống tại địa phương đã biết gia đình ông M bà C liên tục trực tiếp sử dụng đất từ năm 1991 cho đến nay (Bút lục: 128->136).
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn cho rằng: giữa nguyên đơn và những người làm chứng có mâu thuẫn tại địa phương, nhưng ngoài lời trình bày nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ minh cho mâu thuẫn đương sự trình bày.Trong khi, người làm chứng có ý kiến là ngườ sống cố cựu tại địa phương, không mâu thuẫn gì với nguyên, bị đơn trong vụ án và xác định sự việc bị đơn sinh sống trên đất từ những năm 1991 cũng phù hợp với thựa tế diễn ra. Do đó, lời khai của người làm chứng được xem là vô tư khách quan để xác định sự thật chung.
Từ những viện dẫn trên, có căn cứ tin: ông Nguyễn Văn Q đã chuyển nhượng đất cho phía vợ chồng bà Trần Thị C, ông Nguyễn Trung M từ thời điểm còn thuộc quyền định đoạt của ông Q. Việc mua bán/chuyển nhượng đã hoàn thành trên thực tế: bên nhận chuyển nhượng đã giao đủ 04 chỉ vàng 24k và nhận đất sử dụng, cất nhà sinh sống ổn định từ những năm 1990-1991. Nên công nhận giao dịch thực tế
giữa các đương sự thep quy định tại các Điều 129, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 (áp dụng cho giao dịch đang thực hiện).
- Do đó, việc cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người liên quan là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, nguyên đơn kháng cáo nhưng không chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc.
Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên trong khuôn khổ luật định.
- Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 103/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Áp dụng:
- Các Điều 129 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị C và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung M.
Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 122,2m² (loại đất T) và tài sản gắn liền với đất tại thửa 333, tờ bản đồ số theo Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (gửi kèm) cho bà Trần Thị C và ông Nguyễn Trung M.
* Đương sự có quyền, nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký/điều chỉnh quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất theo thực trạng.
(Gửi kèm Bản trích đo địa chính số 527/TTKTTNMT ngày 31/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
- Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 011298 ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí (đã thực hiện xong).
Bị đơn được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 011577 ngày 18/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung M được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002276 ngày 28/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Án phí phúc thẩm:
Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 011298 ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí (đã thực hiện xong).
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản và lệ phí trích đo địa chính:
Nguyên đơn phải chịu 5.608.000 đồng (Năm triệu sáu trăm lẻ tám ngàn đồng) – đã thực hiện xong.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Trang Thư |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Thư |
Bản án số 202/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 202/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
