Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 532/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lee J - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện ủy quyền: Công ty L.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty L: Bà Nguyễn Thị Xuân M, Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: P, tầng D, tòa nhà S T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Văn bản ủy quyền số 199/2023/GUQ-MAFC ngày 23/5/2023)

Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Lâm Thị Thùy D, chức vụ: Nhân viên pháp lý Công ty L (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: P, tầng D, tòa nhà S T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 05/9/2023 của Công ty L).

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: 1 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/9/2023 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn bà Lâm Thị Thùy D tại bản tự khai và các biên bản hòa giải:

Ngày 06/6/2022, Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 3232303 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Phạm Thị P với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Phạm Thị P. Theo hợp đồng tín dụng, bà Phạm Thị P có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.788.387 đồng trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 05/7/2022 đến ngày 05/12/2024.

Sau khi được giải ngân số tiền vay nêu trên, bà Phạm Thị P đã thanh toán 14.274.000 đồng (theo báo cáo lịch sử thanh toán). Từ ngày 27/5/2023 bà Phạm Thị P đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng bà Phạm Thị P vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho phía Công ty T nên Công ty T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Phạm Thị P thanh toán cho Công ty T tổng cộng số tiền tính đến ngày 09/01/2024 là 38.550.833 đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc: 26.480.324 đồng.
  • -Lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 8.816.989 đồng.
  • -Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 2.845.365 đồng.
  • -Lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 408.155 đồng.

Phạm Thị P phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3232303 của bà Phạm Thị P kể từ ngày 10/01/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty T (VIỆT NAM).

Bị đơn bà Phạm Thị P đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử thông báo thời gian

mở phiên tòa vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 09/4/2024 nhưng bà P vắng mặt. Sau đó Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa ấn định thời gian xét xử lại vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 06/5/2024 nhưng vào ngày 03/5/2024 bà P có đến Tòa án tham gia giải quyết vụ kiện. Tại bản tự khai ngày 03/5/2024 bà P trình bày: Bà xác định ngày 06/6/2022 bà có ký Hợp đồng tín dụng số: 3232303 với Công ty T (VIỆT NAM) để vay số tiền là 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm, kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 06/6/2022 đến ngày 05/12/2024. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân cho bà số tiền 31.980.000 đồng theo đúng Hợp đồng tín dụng và bà đã nhận đủ số tiền này. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà đã thanh toán cho công ty số tiền là 14.274.000 đồng, sau đó do kinh tế khó khăn, bà đã không tiếp tục thanh toán cho Công ty T số tiền còn nợ. Nay công ty khởi kiện, bà đề nghị xin được trả góp 2.000.000 đồng mỗi tháng, nếu công ty không đồng ý thì bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và xin được vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng đã có bản tự khai trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong đơn khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Phạm Thị P phải trả nợ số tiền tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 43.592.248 đồng. Trong đó nợ gốc 26.480.324 đồng, số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn) là 10.849.310 đồng, số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc) là 5.541.715 đồng, số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 720.899 đồng. Yêu cầu thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 07/5/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3232303 cho đến khi bà P hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay.

Đối với bị đơn bà Phạm Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cũng như tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc ủy quyền được thực hiện bằng văn bản đúng quy định. Riêng bị đơn từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay không đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định Công ty T (Việt Nam) và bà Phạm Thị P có ký hợp đồng tín dụng. Theo đó nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 31.980.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà P. Theo hợp đồng tín dụng, bà P có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng số tiền

1.788.387 đồng trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 05/7/2022 đến ngày 05/12/2024. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà P đã thanh toán được số tiền 14.274.000 đồng. Kể từ ngày 27/5/2023 bà P đã không thanh toán, theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía công ty đã giải ngân.

Công ty đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà P thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, công ty cũng gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán để thông báo cho bà P biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà P vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía công ty.

Sau khi nguyên đơn khởi kiện, trước ngày mở phiên tòa lần 2 theo Quyết định hoãn phiên tòa, bị đơn có đến Tòa án trình bày thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền theo đơn khởi kiện và đề nghị trả góp mỗi tháng 2.000.000 đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý thì đề nghị giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015, cùng các tài liệu do nguyên đơn cung cấp, lời khai của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán một lần số tiền còn nợ có căn cứ xác định tính đến ngày 06/5/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 43.592.248 đồng, trong đó nợ gốc 26.480.324 đồng, số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn) là 10.849.310 đồng, số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc) là 5.541.715 đồng, số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 720.899 đồng. Việc bị đơn không thanh toán tiền vay là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng nên căn cứ Điều 466 BLDS năm 2015 và Luật tổ chức tín dụng có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 07/5/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3232303 cho đến khi bà P hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện của Công ty T xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật dân sự năm 2015. Tại biên bản xác minh của Công an xã T, huyện H xác nhận bị đơn là bà Phạm Thị P có hộ khẩu thường trú và thực tế có cư trú tại 1 ấp T, xã T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt, trước ngày mở phiên tòa lần thứ hai theo Quyết định hoãn phiên tòa thì bị đơn có làm đơn xin xét xử vắng mặt; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét

xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là có cơ sở.

[3] Về nội dung vụ án: Do xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ lời khai thừa nhận của các bên, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3232303, ngày đề nghị vay 03/6/2022, ngày ký hợp đồng 06/6/2022 mà bà Phạm Thị P đã ký có nội dung đề nghị Công ty T cho bà P vay số tiền là 31.980.000 đồng, hình thức vay tín chấp. Nội dung cụ thể:

  • - Số tiền vay 31.980.000 đồng đồng bao gồm 30.000.000 tiền vay và 1.980.000 đồng phí bảo hiểm.
  • - Thời hạn vay: 30 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 05/12/2024.
  • - Lãi suất: 3.67%/tháng.
  • - Kỳ thanh toán: ngày 05 dương lịch hàng tháng.

Nội dung hợp đồng phù hợp tại quy định Điều 117 Bộ luật dân sự, Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Ngân hàng N nên được pháp luật công nhận và có hiệu lực.

Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân 30.000.000 đồng theo Phiếu báo nợ vào số tài khoản 781976 của bà P mở tại Ngân hàng TMCP P1. Theo báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng, báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng mà nguyên đơn cung cấp, lời trình bày thừa nhận của bị đơn bà P thì quá trình thực hiện hợp đồng bà P chỉ thanh toán được số tiền 14.274.000 đồng; đến ngày 27/5/2023 thì ngưng không thanh toán nợ cho đến nay. Như vậy bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng số 3232303 ký ngày 06/6/2022. Do bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn, đồng thời chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận tại khoản 8.3 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Ngân hàng N nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị P phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 43.592.248 đồng. Cụ thể:

  • - Nợ gốc: 26.480.324 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 10.849.310 đồng.
  • -Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 5.541.715 đồng.
  • -Lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán: 720.899 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bị đơn đề nghị trả góp mỗi tháng 2.000.000 đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 cần buộc bà P phải trả cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, Lệ phí Tòa án cần buộc bị đơn bà Phạm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • - Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam).

Buộc bà Phạm Thị P có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3232303, ký ngày 06/6/2022 tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 43.592.248 đồng. Cụ thể:

  • - Nợ gốc là 26.480.324 đồng.
  • - Lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn) là 10.849.310 đồng.
  • - Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc) là 5.541.715 đồng.
  • - Lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 720.899 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền nợ nêu trên, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3232303, ký ngày 06/6/2022.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Phạm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.179.612 (hai triệu một trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm mười hai) đồng, thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 820.575 đồng theo biên lai thu tiền số 0017291 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - CCTHADS huyện Hóc Môn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 202/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty T tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Phạm Thị P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger