Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số:202/2023/HS-PT

Ngày: 21-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du

Bà Lê Thị Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 251/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 do Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2023/QĐXXPT-HS ngày 06/11/2023, đối với:

* Bị cáo có kháng cáo Họ và tên: Bùi Văn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23 tháng 7 năm 1986 - tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Bùi Văn H - sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Bùi Thị L - Sinh năm 1964; Bị cáo có vợ đã ly hôn; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2023 đến nay, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trương Thị D; Sinh năm: 1980 (Có mặt)

Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn B, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, huyện T và chị Trương Thị D, sinh năm 1980, trú tại thôn G, xã T từng có quan hệ là vợ chồng nhưng đã ly hôn, hiện tại giữa B và chị D đang có mẫu thuẫn trong việc chia tài sản theo quyết định của Toà án. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2022, B nhìn thấy chị D đứng ở khu đất trống bên trong khuôn viên khu nhà B đang ở. Cho rằng chị D đến để đo đất, tranh giành tài sản với mình nên B có lời nói to tiếng, chửi bới chị D, bị B chửi bới, chị D cũng có lời qua tiếng lại với B. Bực tức vì cho rằng chị D tự ý vào nhà mình để đo đất, còn lời qua tiếng lại nên B đã đi đến vị trí của chị D, dùng tay không túm cổ áo đánh vào vùng gáy phía sau chị D, dùng chân đạp một phát vào hông bên phải làm chị D ngã xuống nền đất tại vườn cỏ. Khi bị ngã xuống nền đất, chị D kêu la, tiếp tục lời qua tiếng lại, to tiếng với B về việc B đánh chị D, thì B tiếp tục nhặt một đoạn gậy gỗ, đập một số cái về phía vùng lưng của chị D thì đoạn gậy gỗ bị gãy nên B nhặt đá ném một số cái về phía người của chị D. Khi thấy chị D bị thương thì B dừng lại không đánh nữa, sau đó ném đoạn gậy gỗ gần nơi đánh chị D rồi điều khiển xe mô tô đi khỏi nhà. Sau đó, chị D được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị vết thương tại Bệnh viện Đa khoa huyện T.

Sau khi chị D bị đánh gây thương tích, đến ngày 20/12/2022 cháu Mai Văn S là con trai của Trương Thị D đã làm đơn trình báo sự việc chị D bị Bùi Văn B đánh gây thương tích đến Công an xã T. Ngay sau khi tiếp nhận nội dung vụ việc, Công an xã T xác minh sơ bộ rồi chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của chị Trương Thị D ngày 20/12/2022, tại Bệnh viên Đa khoa huyện T xác định: Vùng lưng có vết bần tím, tụ máu dưới da kích thước 40cm x 15cm; Vùng đỉnh phải có khối sưng nề 02 x 02 cm.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định số 244/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định mức độ tỷ lệ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên đối với chị Trương Thị D. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1565/2022/TTPY ngày 06/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • Chấm thương vùng lưng gây tổn thương: Gãy rạn ngang L1 bên trái; đã được điều trị: 06%; Tràn dịch màng phổi phải; đã được điều trị: 5%; Tràn dịch màng phổi trái; đã được điều trị: 5%; Vết biến đổi sắc tố da vùng lưng ngang mức bả vai hai bên kéo dài xuống đến ngang mức đốt số L1: 01%;
  • Chấn thương vùng đỉnh phải đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mề, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương phần mền, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thưởng cơ quan chức năng do chấn thương: 0%;
  • Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trương Thị D là 16%.

Ngày 13/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ban hành tiếp quyết định số 12/QĐ-ĐTTH yêu cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định loại hung khí, cơ chế hình thành những thương tích gây nên đối với chị Trương Thị D. Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 118/2023/TGT ngày 19/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Các vết thương vùng lưng do tác động của ngoại lực, tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh. Gây chấn thương lưng, ngực, bụng đã được điều trị; hiện còn di chứng, gãy rạn gai ngang L1 bên trái, tràn dịch màng phổi phải, tràn dịch màng phổi trái;

Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng lưng ngang mức bả vai hai bên kéo dài xuống đến mức đối số L1; vùng đỉnh phải có khối sưng nề: Do tác động ngoại lực, tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tài có cạnh. Gây thương tổn thương sưng nề vùng đỉnh phải; đã được điều trị; hiện tại không để lại vết sẹo vết thương phần mền, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương;

Nếu đối tượng dùng đoạn luồng dẹt có đặc điểm như đã mô tả tại Quyết định trưng cầu giám định số 12/QĐ-ĐTTH, ngày 13/1/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đập vào vùng lưng của chị Trương Thị D thì có thể gây nên được vết thương vùng lưng đối với chị D như đã ghi nhận tại hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp; Nếu đối tượng dùng tay chân tác động vật lý vào vùng lưng chị D thì không thể gây nên được vết thương vùng lưng đối với chị D như đã ghi nhận tại hồ sơ giám định do Cơ quan Trưng cầu giám định cung cấp; Nếu chị D bị ngã xuống nền đất (đặc điểm nền đất có nhiều sỏi, đá với các kích thước khác nhau) thì không thể gây nên được vết thương vùng lưng đối với chị D như đã ghi nhận tại hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp.

Quá trình điều tra xác định, mặc dù tại bệnh án của chị Trương Thị D do Bệnh viện Đa khoa huyện T cung cấp không ghi nhận vết thương gãy rạn gai ngang L1 bên trái; tràn dịch màng phổi và tài liệu thể hiện việc điều trị đối với các tổn thương trên. Tuy nhiên, quá trình nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện T, chị D không được chụp CT-Scaner lồng ngực, cột sống thắt lưng nên không phát hiện và điều trị các tổn thương trên cơ thể nêu trên. Việc giám định tại Trung tâm pháp y tỉnh T được thực hiện ngay trong thời gian chị D đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện T, theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Vì vậy, kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh T là khách quan và hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra chị Trương Thị D yêu cầu Bùi Văn B bồi thường cho chị D tổng số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Ngày 09/8/2023 chị D có đơn yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 84.084.000₫ (T mươi tư triệu không trăm tám mươi tư nghìn đồng). Trong đó số tiền viện phí và tiền thuốc điều trị là 9.084.000đ (Chín triệu không trăm tám mươi tư nghìn đồng); tiền xe đi lên viện, tiền xăng xe đi lại khi điều trị, ăn uống là: 5.000.000₫ (Năm triệu đồng); tiền người chăm sóc là 5.000.000đ (Năm triệu đồng); Tiền lương nhưng ngày không đi làm được là 8 ngày nằm viện và 8 tháng điều trị tại nhà là 15.000.000đ (Mười ba triệu đồng); tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), hiện Bùi Văn B chưa thực hiện việc bồi thường dân sự cho chị Trương Thị D được khoản nào.

Xác minh điều kiện tài sản, thu nhập của Bùi Văn B xác định hiện bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định, ngoài ngôi nhà xây dựng trên thửa đất có diện tích 126m2, bị cáo không có tài sản chung, tài sản riêng nào khác.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 đoạn luồng dẹt, màu nâu - vàng đã khô, một đầu bị cháy màu đen, kích thước dài 46cm, phần rộng nhất 09cm, dày 01cm do Bùi Văn B giao nộp. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Bùi Văn B. Đối với 01 đoạn gậy gỗ bị gãy đôi màu vàng xám mà chị D khai báo Bùi Văn B đã sử dụng để đánh gây thương tích cho chị D, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 05/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn B 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng: Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 584, 585, 589, 590 BLDS; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Khoản 1 Điều 6, điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn B phải bồi thường cho chị Trương Thị D tổng số tiền là: 35.584.000₫ (Ba mươi lăm triệu năm trăm tám mươi tư nghìn đồng). Khoản tiền bồi thường này được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Từ khi chị Trương Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/9/2023 (trong hạn luật định) bị cáo Bùi Văn B có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Bị cáo Bùi Văn B nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định chấp nhận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại cấp sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, nhưng chưa bồi thường cho bị hại, nên chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tình tiết tăng nặng: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Cấp sơ thẩm tuyên hình phạt 33 tháng tù đối với bị cáo là đúng quy định.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo bổ sung tài liệu mới là: Giấy khen chiến sỹ tiên tiến do Trung đoàn bộ binh 335 khen thưởng. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khai nại bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ tại Trung đoàn bộ binh 335 và được khen thưởng chiến sỹ tiên tiến năm 2006, bị cáo mong muốn được giảm nhẹ hình phạt và hưởng hình phạt án treo. Xét thấy tài liệu bị cáo bổ sung thuộc trường hợp giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và bị hại không thắc mắc gì về số tiền bồi thường sức khỏe do cấp sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại vì bị cáo chưa có điều kiện để bồi thường. Bị hại đề nghị không giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo cho bị cáo vì bị cáo đã nhiều lần đánh bị hại và chưa bồi thường cho bị hại. Mặc dù bị cáo nộp thêm tài liệu mới nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nhưng xét hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng cấp sơ thẩm tuyên 33 tháng tù đối với bị cáo là đúng quy định, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Bùi Văn B 33 tháng tù.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật, xin lỗi bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo đẻ ở nhà nuôi hai con nhỏ và bố mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn B nộp trong thời hạn luật định hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của Bùi Văn B tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2022, tại nhà của mình Bùi Văn B do có mâu thuẫn trong việc giải quyết tranh chấp đất đai với chị D, bị cáo đã có hành vi dùng tay không túm cổ áo và đánh vào vùng gáy phía sau, dùng chân đạp một phát vào hông bên phải làm chị D ngã xuống nền đất tại vườn cỏ. Sau đó B tiếp tục nhặt một đoạn gậy gỗ đập một số cái về phía vùng lưng của chị D, do đoạn gỗ bị gẫy nên B nhặt đá ném về phía chị D. Hành vi của Bùi Văn B đã gây thương tích cho chị Trương Thị D với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 16%.

Hành vi của bị cáo Bùi Văn B bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của Bùi Văn B xin giảm nhẹ hình phạt, và xin được hưởng án treo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình trị an xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về tính chất, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm: Bùi Văn B cung cấp giao nộp bổ sung chứng cứ, như bị cáo trình bày là vì điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân nuôi hai con nhỏ và bố mẹ già và có thời gian tham gia quân đội được do Trung đoàn bộ binh 335 khen thưởng, Tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến binh nhất hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2006; chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, với tính chất, hậu quả, hành vi phạm tội bị cáo nguy hiểm cho xã hội, bị dư luận quần chúng nhân dân lên án, chỉ vì bực tức cho rằng chị D là vợ đã ly hôn tự ý vào nhà mình để đo đất, còn lời qua tiếng lại nên B đã đi đến vị trí của chị D, dùng tay, chân, một đoạn gậy gỗ, viên đá để liên tục đánh chị D, bản thân chị D từng là vợ của B, lại là người phụ nữ tay yếu chân mềm cần được bảo vệ do đó hành vi của bị cáo thể hiện coi thường pháp luật, có tính chất côn đồ. Sau khi phạm tội cho đến nay B chưa bồi thường được đồng nào, trước khi chị D bị đánh lần này, B đã nhiều đánh chị D trước đó nữa nên chị D cương quyết đề nghị không giảm nhẹ hình phạt và không cho được hưởng án treo. Do đó, HĐXX phúc thẩm xét thấy không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo. Giữ bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có liệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận, phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo. Giữ bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân, huyện T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt : Bị cáo Bùi Văn B 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tự giác đi thi hành án hoặc bắt thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn B phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an H. Thạch Thành .TH;
  • - TAND, VKSND H. Thạch Thành.TH;
  • - Chi cục THA DS H. Thạch Thành.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2023/HS-PT ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 202/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh vợ cũ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger