Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2024/DS-PT

Ngày 30 tháng 8 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Huỳnh Thanh Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh; bà Trịnh Ngọc Thúy;

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mai– Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 152/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 213/2024/QĐXXPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; địa chỉ: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; địa chỉ hiện nay: Tổ A, khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1994; địa chỉ: số C, khu N ở xã hội, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ngày 01/11/2021, ông và ông Nguyễn Thanh Q hợp tác đầu tư để mở garage xe tại khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang, thỏa thuận góp vốn để xây dựng nhà xưởng và mua sắm trang thiết bị với tổng số vốn góp là 432.042.000đồng, mỗi bên tham gia góp vốn là 216.021.000 đồng. Phương thức phân chia lợi nhuận, sau khi trừ các chi phí hợp lý, phần còn lại mỗi bên được hưởng 50% tương ứng với phần góp vốn của mỗi bên, thời gian góp vốn từ 01/11/2021 đến ngày 01/11/2026.

Quá trình kinh doanh, đến tháng 02/2022, do không được lợi nhuận nên ông yêu cầu xin rút vốn và giao lại toàn bộ mặt bằng, nhà xưởng cho cá nhân ông Q kinh doanh. Đến tháng 3/2022, giữa ông và ông Q thỏa thuận chấm dứt hợp đồng góp vốn, việc thỏa thuận chỉ nói miệng, không làm văn bản. Lúc đầu ông yêu cầu ông Q hoàn trả cho ông số tiền 150.000.000đồng nhưng ông Q không đồng ý, sau đó giảm còn 130.000.000đồng nhưng ông Q cũng không đồng ý. Cuối cùng, tới tháng 6/2023 ông đồng ý số tiền ông Q hoàn trả cho ông là 110.000.000đồng và ông Q được tiếp tục quản lý, sử dụng nhà xưởng. Tuy nhiên, tới thời điểm hiện nay ông Q vẫn chưa giao lại tiền cho ông. Từ tháng 11/2022, ông Q đem nhà xưởng cho thuê với giá 15.000.000đồng/tháng, nhưng không phân chia gì lợi nhuận cho ông, trong khi số tiền góp vốn chưa giao trả lại cho ông.

Ông M yêu cầu ông Q phải trả số tiền vốn góp là 216.021.000đồng theo hợp đồng góp vốn ngày 01/11/2021 và 50% số tiền cho thuê phân xưởng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023 (vì phân xưởng còn là tài sản chung) với số tiền là 60.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 106.021.000 đồng, ông chỉ yêu cầu ông Q trả lại số tiền vốn góp là 110.000.000 đồng và 50% số tiền cho thuê phân xưởng là 60.000.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Q trình bày:

Ông Q có thoả thuận cùng ông M lập hợp đồng góp vốn số tiền 432.042.000 đồng để kinh doanh garage xe Quốc Minh, mỗi người góp vào số tiền 216.021.000 đồng. Số tiền này cả hai dùng để đặt cọc thuê mặt bằng của bà Nguyễn Trúc H là 50.000.000 đồng, giá thuê 7.000.000đ/tháng, trả tiền thuê nhà hàng tháng và mua sắm máy móc, trang thiết bị đầu tư vào garage Quốc Minh. Do hoạt động kinh doanh không hiệu quả, dẫn đến thua lỗ, ông nhiều lần gọi điện thông báo cho ông M biết tình hình kinh doanh của garage, một mình ông phải trang trải trả tiền thuê mặt bằng, thuê nhân công trông coi garage, yêu cầu ông M có trách nhiệm thanh toán tiếp ông để duy trì cơ sở kinh doanh nhưng ông M thoái thác, lẫn tránh không đồng ý lo trả các khoản phí tiếp ông.

Đến tháng 3/2022, ông báo cho ông M biết yêu cầu ông M tất toán hợp đồng góp vốn và ngưng kinh doanh garage xe Quốc Minh, ông M đồng ý và yêu cầu ông nhận mặt bằng kinh doanh, ông M nhận lại 110.000.000đồng. Ông hẹn đến tháng 12 (âm lịch) năm 2022 sẽ trả lại số tiền 110.000.000đồng cho ông M và đề nghị ông M ký biên bản chấm dứt hợp đồng góp vốn nhưng ông M không ký.

Sau khi thỏa thuận việc chấm dứt hợp đồng góp vốn với ông M xong, ông đầu tư sửa sang lại mặt bằng để cho người khác thuê mở quán ăn. Tại buổi làm việc hoà giải ở Văn phòng khóm Thanh Niên thì ông M cũng đồng ý giao mặt bằng cho ông Q khai thác và đồng ý nhận lại 110.000.000 đồng để chấm dứt hợp đồng góp vốn. Ông Q đồng ý thanh toán cho ông M số tiền 110.000.000 đồng theo thỏa thuận và yêu cầu ông M phải thanh toán lại 50% cho ông số tiền cụ thể: Thuê mặt bằng 7.000.000đồng/tháng x 3 tháng = 21.000.000đồng; thuê nhân công 10.000.000đồng/tháng (2 người rửa xe) x 3 tháng = 30.000.000 đồng; điện, nước kinh doanh 1.500.000đồng/tháng x 3 tháng = 4.500.000 đồng.

* Tại Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh Q có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với yêu cầu ông Nguyễn Thanh Q trả số tiền 106.021.000 đồng.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với yêu cầu ông Nguyễn Thanh Q trả 50% số tiền cho thuê phân xưởng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 6/2023 (vì phân xưởng còn là tài sản chung) với số tiền là 15.000.000 đồng x 08 tháng x 50%= 60.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi nếu chậm thi hành án, án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 02/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Thanh Q có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Q trả cho ông M số tiền 110.000.000 đồng là quá cao không đúng thực tế; chưa xem xét trừ đi khoản thua lỗ mà ông Q đã chi trả.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn ông M: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

Bị đơn ông Q: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của ông Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Q kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Theo nội dung Hợp đồng góp vốn ngày 01/11/2021, ông M góp vốn cùng ông Q thực hiện mô hình kinh doanh garage xe Quốc M1 tại khóm T, thị trấn P, huyện T, tổng giá trị vốn góp là 432.042.000 đồng. Trong đó, ông M1 và ông Q mỗi người góp 50% là 216.021.000 đồng, thời hạn góp vốn là 05 năm (kể từ ngày 01/11/2021), thỏa thuận phân chia lợi nhuận mỗi người 50% (khoản tiền còn dư ra sau khi trừ các chi phí cho đầu tư, quản lý tài sản góp vốn). Các bên đã thực hiện xong việc góp vốn mỗi người là 216.021.000 đồng theo từng đợt thanh toán chi phí đầu tư kinh doanh.

Đến tháng 3/2022 do kinh doanh không hiệu quả nên ông M1 và ông Q thỏa thuận chấm dứt hợp đồng góp vốn, ông M1 giao lại cho ông Q toàn bộ giá trị tài sản đầu tư và ông Quốc h lại ông M1 số tiền 110.000.000 đồng, việc thỏa thuận không lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận miệng. Ông Q chưa thanh toán số tiền trên cho ông M1 mà yêu cầu ông M1 phải chịu một phần chi phí tiền thuê mặt bằng, thuê nhân công, điện, nước đã chi trả tư trong thời gian kinh doanh, ông M1 không đồng ý.

Tại tờ tự khai bổ sung ngày 21/12/2023, ông Q trình bày các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hùn vốn và ông Q đồng ý hoàn lại ông M1 110.000.000 đồng, “Số tiền chi trả lại ông M1 theo thỏa thuận là kể từ ngày giao mặt bằng cho tới tháng 12/2022 (âm lịch) sẽ chi trả, do trong giai đoạn này garage Quốc Minh trong tình trạng phá sản và ngưng hoạt động” (BL 37).

Ngoài ra, tại Bản tường trình ngày 10/01/2023, ông Q trình bày: “đồng ý trả cho anh M1 110.000.000 đồng tiền vốn góp (không cần anh M1 trả lại khoản đã thất thoát và lỗ lã trước), tiền trả cho anh M1 theo thỏa thuận là tháng 12/2021 (âm lịch)... Tháng 1/2022, sau khi thỏa thuận xong với anh M1. Tôi đã chuyển mô hình garage xe Quốc M1 sang cơ sở quán ăn...” (BL 22).

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q thừa nhận đã lập Tờ tường trình ngày 10/01/2023 với nội dung trên.

Như vậy, thời điểm thỏa thuận chấp dứt hợp đồng thì garage không còn hoạt động, ông Q không có yêu cầu ông M1 thanh toán các chi phí phát sinh và thua lỗ, đồng thời đồng ý hoàn lại ông M1 110.000.000 đồng là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

Số tiền ông M1 đã góp vốn vào đầu tư garage là 216.021.000 đồng lúc đầu ông M1 khởi kiện yêu cầu ông Quốc h lại số tiền 216.021.000 đồng như thỏa thuận trong hợp đồng hùn vốn. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm, ông M1 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Q trả 110.000.000 đồng là đúng thỏa thuận chấm dứt hợp đồng từ tháng 3/2022. Cấp sơ thẩm chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông M1, buộc ông Q trả lại ông M1 số tiền 110.000.000 đồng là có căn cứ.

Ông Q kháng cáo, yêu cầu xem xét khấu trừ chi phí phát sinh từ việc thuê mặt bằng của bà Nguyễn Trúc H mở garage, thuê nhân công rửa xe, chi phí điện nước kinh doanh trong thời gian garage còn hoạt động là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với phần yêu cầu khởi kiện đòi ông Q trả 106.021.000 đồng, ông M1 tự nguyện rút lại, cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của ông M1 đòi ông Q trả 50% thu nhập từ việc ông Q cho thuê nhà xưởng của garage, số tiền 60.000.000 đồng. Xét thấy, việc ông Q cho thuê nhà xưởng sau khi đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hùn vốn nên ông M1 không còn quyền lợi gì đối với thu nhập từ việc cho thuê nhà xưởng. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông M1 là có căn cứ.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh Q, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh Q có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với yêu cầu ông Nguyễn Thanh Q trả số tiền 106.021.000 đồng.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối với yêu cầu ông Nguyễn Thanh Q trả 50% số tiền cho thuê phân xưởng là 60.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  2. Ông Nguyễn Thanh Q phải chịu 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

    Ông Nguyễn Văn M phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền 6.900.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0012051 ngày 02/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, ông M được nhận lại số tiền 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng).

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  4. Ông Nguyễn Thanh Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013854 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, ông Q đã nộp đủ án phí phúc thẩm;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn ;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp vốn

  • Số bản án: 201/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp tác hùn vốn kinh doanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger