TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 201/2024/HS-ST Ngày 25-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khuê
Bà Bùi Thúy Mở
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đình H, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1989 tại Thái Bình. Nơi ĐKTT: Thôn T, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Hà Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2012/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2012, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Đình H 26 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 09 tháng 11 năm 2020, Công an xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Đình H 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (được tính chưa có tiền sự); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02 tháng 4 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 11 tháng 4 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Bà Trần Thị B, ông Lê Minh L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại khu vực đường tỉnh lộ 359 thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, Tổ công tác Công an huyện T kết hợp Công an xã T phát hiện Nguyễn Đình H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K4-1181 có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy, mang đi bán, Tổ công tác đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy, mẫu số 2); tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 16K4-1181, kiểm tra tại võng xe có 01 lọ nhựa hình trụ cao 07cm bên trong có 11 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy, mẫu số 1), trong cốp xe có 01 túi giấy màu vàng kích thước (12 x 20)cm bên trong có 50 gói giấy chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy, mẫu số 3) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu G màu đen gắn sim số 0927298952 Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T giải quyết.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đình H tại thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.
Tại Kết luận giám định số 404/KL-KTHS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 11 gói giấy chứa chất bột màu trắng trong lọ nhựa thu tại võng xe mô tô của H là ma túy, có khối lượng 2,14 gam, loại Heroine; 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng thu tại túi quần của H là ma túy, có khối lượng 3,49 gam, loại Heroine; 50 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu tại cốp xe mô tô của H là ma túy, có khối lượng 9,87 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình H khai: Do nghiện ma túy nên H thường xuyên mua Heroine của người đàn ông tên B1 tại khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để sử dụng. Đến khoảng cuối tháng 3 năm 2024, Ba thuê H bán ma túy và thỏa thuận hàng ngày Ba sẽ trả tiền công từ 500.000 đồng đến 1.100.000 đồng tùy vào số lượng ma túy H bán được và cho H 03 gói Heroine để sử dụng, H đồng ý. Khoảng 11 giờ hàng ngày, H sẽ đến đường tàu nội thành Hải Phòng, tại đây Ba đưa H2 cho H bán với giá 300.000 đồng/gói, 4.600.000 đồng/“chỉ”. Đến cuối buổi chiều cùng ngày, H mang tiền bán ma túy và số ma túy chưa bán hết đưa lại cho Ba. H đã bán ma túy cho nhiều người nhưng không nhớ người mua là ai, ở đâu. Khoảng 11 giờ ngày 02 tháng 4 năm 2024, H đến gặp Ba tại điểm hẹn, Ba đưa cho H 01 túi giấy màu vàng bên trong có 61 gói Heroine và 01 gói giấy màu bạc chứa 01 chỉ Heroine. H mang ma túy về phòng trọ lấy 11 gói trong túi màu vàng cho vào lọ nhựa treo ở võng xe mô tô, còn lại 50 gói, H cho vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 16K4-1181 và 01 “chỉ” ma túy, H cất ở túi quần. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, H nhận được điện thoại của một nam giới không quen biết hỏi mua 01 “chỉ” Heroine với giá 4.600.000 đồng và hẹn địa điểm giao dịch mua bán tại khu vực cây xăng xã T, huyện T, H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô mang theo ma túy đến điểm hẹn, khi H đến khu vực thôn D, xã T thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, xác minh xác định người người đàn ông tên B1 mà H khai bán thuê ma túy là Lương Cao B2, sinh năm 1967, trú tại số C đường T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra, B2 khai H là công nhân xây dựng làm thuê cho Ba từ đầu năm 2024; Ba không thuê H bán ma túy, Ba không biết và không tham gia việc mua bán trái phép chất ma túy như H khai.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên.
Tại Cáo trạng số 188/CT-VKSTN ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 02 tháng 4 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong số 404MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa chất ma túy 14,57gam Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động nhãn hiệu G màu đen gắn sim số 0927298952. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 404/KL-KTHS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại khu vực đường tỉnh lộ 359 thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Đình H đã có hành vi cất giấu trái phép 15,5 gam ma túy Heroine mục đích để bán bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ thì H2 là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Nguyễn Đình H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu 15,5 gam ma túy Heroine trái phép mục đích để bán của bị cáo Nguyễn Đình H đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đình H có một tiền án đã được xóa án tích và một tiền sự được tính chưa có tiền sự, nên bị cáo là người có nhân thân xấu và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Lượng ma túy 14,57 gam Heroin còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong một phong bì, dấu niêm phong số 404MT/PC09. Ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu G màu đen gắn sim số 0927298952 bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[6.1] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16K4-1181 thu của bị cáo H, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đình H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Đình H tính từ ngày 02 tháng 4 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình H.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì dấu niêm phong số 404MT/PC09 trong chứa 14,57 gam Heroine cùng vỏ bao gói còn lại sau giám định. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu G màu đen gắn sim số 0927.298.952.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Huế |
Bản án số 201/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 201/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự
