TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 201/2024/HS-ST Ngày: 25/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Huy
Bà Nguyễn Thị Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 203/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với các bị cáo:
1. Lê Văn X, sinh năm 1997 (Tên gọi khác: không)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1975 và bà Bùi Thị K, sinh năm 1974. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ Lương Thị H, sinh năm 2001 (đã ly hôn năm 2022); bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)
2. Lương Văn B, sinh năm 1987 (Tên gọi khác: không)
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Đ, sinh
2
năm 1963 và bà Chu Thị T1, sinh năm 1963. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Đình T2 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, X mượn của chị Nguyễn Thị Lan M (hiện đang thuê trọ tại khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, biển kiểm soát: 88C1-387.87 để đi có việc riêng, chị M đồng ý. Sau đó, X điều khiển chiếc xe mô tô trên đến khu phố T, phường Đ, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, X gặp và mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng ở rìa đường 100.000 đồng tiền ma túy, được 01 gói nhỏ ma túy bọc ngoài bằng giấy màu trắng. X cầm gói ma túy vừa mua ở lòng bàn tay phải và đi ra cánh đồng vắng người gần đó lấy một phần ma túy ra sử dụng. Sau đó, X nhặt thêm một mảnh giấy nhỏ màu trắng ở nơi vừa sử dụng ma túy chia phần ma túy còn lại ra thành 02 phần gần bằng nhau và gói lại thành 02 gói ma túy, rồi cầm trong lòng bàn tay phải và điều khiển xe mô tô ra ngoài đường tìm người mua để bán kiếm lời.
Một lúc sau, khi X đang đi trên đường thì gặp Lương Văn B đang đi bộ. Thấy Ba có biểu hiện giống người sử dụng ma túy, X đi đến gần và hỏi B “có mua ma túy không”, Ba trả lời “có”. X bảo B ngồi lên xe mô tô X chở đến đoạn đường vắng người thì X bán ma túy cho, B đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường vắng người thuộc khu phố T, phường Đ, X dừng xe lại. Lúc này, B đưa cho X 200.000 đồng để mua ma túy, X cầm tiền ở lòng bàn tay phải và đưa lại cho Ba 02 gói ma túy nhỏ đều bọc ngoài bằng giấy màu trắng, Ba cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay phải. Đúng lúc này, tổ tuần tra Công an phường Đ đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang X bán trái phép ma túy cho B và thu giữ các vật chứng như đã nêu ở trên.
Ngoài ra, Lương Văn B khai nhận: Tối ngày 27/3/2024, tại khu vực rìa đường thuộc khu phố T, phường Đ, Ba có mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng và ra khu vực vắng người gần đó sử dụng hết.
Vật chứng thu giữ:
3
- Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Lương Văn B 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng, bên trong đều chứa chất chất bột màu trắng, được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín theo quy định.
- Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Lê Văn X số tiền 200.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, màu đen, biển kiểm soát: 88C1-387.87.
Tại bản Kết luận giám định số 884A ngày 30/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ đều bọc ngoài là lớp giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1203 gam là ma túy Heroine”.
Tại Bản Cáo trạng số 119/CT-VKSTS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo Lê Văn X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lương Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn X thừa nhận có mua 100.000 đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu phố T được 01 gói nhỏ ma túy bọc ngoài bằng giấy màu trắng nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi bị cáo sử dụng một phần ma túy vừa mua được thì gói phần ma túy còn lại thành 02 phần và đi tìm người có nhu cầu để bán. Bị cáo X gặp và bán số ma túy còn lại cho Lương Văn B với số tiền là 200.000 đồng thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Bị cáo Lương Văn B thừa nhận có mua của bị cáo Lê Văn X 200.000 đồng ma túy được 02 gói ma túy thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Các bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Lương Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn X từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn B từ 14 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật
4
Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn.
Khi nói lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra Công an phường Đ bắt quả tang Lê Văn X có hành vi bán trái phép 0,1203 gam ma túy Heroine cho Lương Văn B với giá 200.000 đồng để kiếm lời. Ba khai nhận mua số ma túy trên chỉ để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn X đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Lương Văn B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
5
[5] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo B phạm tội không có động cơ trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo X có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn là phù hợp.
[6] Về vật chứng:
[6.1] Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K1 Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[6.2] Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Winer, màu đen, BKS: 88C1-387.87 của chị Nguyễn Thị Lan M. Ngày 28/3/2024, chị M cho Lê Văn X mượn chiếc xe trên để đi có việc riêng, chị M không biết và X không nói cho chị M biết việc X mượn xe để đi mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 15/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L M chiếc xe mô tô trên là phù hợp. Sau khi nhận lại xe chị M không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
[6.3] Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo X là tiền do bán ma túy mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Liên quan trong vụ án, còn có:
[7.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Văn X chiều ngày 28/3/2024, do X không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7.2] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lương Văn B tối ngày 27/3/2024, do Ba không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7.3] Đối với chị Nguyễn Thị Lan M khi cho X mượn xe không biết X dùng để đi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp pháp luật.
[7.4] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn X và Lương Văn B, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” là phù hợp pháp luật.
[8] Về án phí: Các bị cáo Lê Văn X và Lương Văn B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Lương Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
6
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn X 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Văn B 14 ( Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Lê Văn X, Lương Văn B mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Lê Văn X, Lương Văn B mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 201/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 201/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Xuân phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
