|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 201/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Thu Hiền |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Đức Kha |
| Ông Đặng Ngọc Long |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐ-ST ngày 24/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Hảo, sinh ngày 30/3/1980 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. -
Bị đơn: chị Đỗ Thị Vân, sinh ngày 13/08/1981 (vắng mặt)
Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng tại Việt Nam: thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Hảo trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị Vân được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị Vân về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2012 anh, chị Vân cùng đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan được 03 tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau từ đó. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Kể từ tháng 03/2013 đến nay anh, chị Vân không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị Vân.
Về con chung: Anh, chị Vân có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh năm 10/09/2006. Hiện nay cháu Dương đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao con chung cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh Hảo trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án mở ra.
Chị Đỗ Thị Vân là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 27/3/2024 và 12/4/2024, ông Đỗ Văn Tiến, bà Phan Thị Hợp là bố mẹ chị Đỗ Thị Vân cung cấp:
Về hôn nhân: Anh Hảo, chị Vân được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị Vân về nhà anh Hảo làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn năm 2012 anh Hảo, chị Vân cùng đi Đài Loan lao động. Sau khi sang Đài Loan một thời gian ông bà thấy chị Vân nói vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ đó. Gia đình hai bên đã từ lâu không còn đi lại hỏi thăm nhau.
Về con chung: anh Hảo, chị Vân có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh năm 10/09/2006. Hiện nay cháu Dương đang sinh sống cùng anh Hảo.
Ngoài ra ông, bà cho biết: Chị Vân đi lao động và có về thăm gia đình vài lần, những lần về chị Vân sinh sống cùng ông, bà tại thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan chị Vân vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông, bà đã thông báo cho chị Vân biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Hảo, chị Vân thì chị Vân cho biết: chị đồng ý ly hôn với anh Hảo và đề nghị giao con chung cho anh Hảo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, chị không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cháu Nguyễn Thị Thùy Dương trình bầy: Cháu hiện nay đang sinh sống cùng bố tại thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Cháu được bố chăm sóc đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Hiện nay mẹ cháu đang lao động ở nước ngoài, nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu muốn ở cùng bố.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Văn Hảo vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt, chị Đỗ Thị Vân đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Nguyễn Văn Hảo; Biên bản làm việc với ông Đỗ Văn Tiến, bà Phan Thị Hợp là bố mẹ của chị Đỗ Thị Vân và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Hảo có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Đỗ Thị Vân không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Hảo; xử:
Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn Hảo được ly hôn chị Đỗ Thị Vân.
Về con chung: Do chị Vân hiện đang lao động tại nước ngoài nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không đảm bảo nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh ngày 10/09/2006 cho anh Nguyễn Văn Hảo là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Vân không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Vân phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Văn Hảo khởi kiện xin ly hôn chị Đỗ Thị Vân và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 3394/QLXNC-P3 ngày 26/3/2024 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, chị Vân đã xuất nhập cảnh 13 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 24/01/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị Vân được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, chị Vân là bị đơn có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam tại thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự:
Đối với nguyên đơn anh Nguyễn Văn Hảo đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn chị Đỗ Thị Vân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn anh Hảo và ông Đỗ Văn Tiến, bà Phan Thị Hợp (bố mẹ chị Vân) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị Vân ở Việt Nam là: thôn An Nguyễn, xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị Vân thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị Vân biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Nguyễn Văn Hảo và chị Đỗ Thị Vân. Gia đình chị Vân cho biết chị Vân vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị Vân không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị Vân tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Hảo và chị Đỗ Thị Vân kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Cương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh Hảo, chị Vân phát sinh mâu thuẫn, anh Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị Vân.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Hảo, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Hảo, chị Vân chung sống hòa thuận sau đó cùng đi lao động nước ngoài. Sau khi sang nước ngoài lao động đến tháng 3/2013 anh, chị phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau từ đó. Chị Vân hiện đang lao động tại nước ngoài, thông qua gia đình chị Vân cho biết chị xác định vợ chồng đã ly thân nhau một thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh Hảo và đồng ý giao con cho anh Hảo chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh Hảo, chị Vân không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau một thời gian dài làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hảo với chị Vân là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Anh Hảo, chị Vân có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh ngày 10/9/2006. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh Hảo. Sau khi ly hôn anh Hảo đề nghị giao con chung cho anh Hảo là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Dương có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu nuôi con chung cho anh Hảo sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: chị Vân hiện đang lao động tại Đài Loan nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Cháu Dương trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn, cháu từ khi sinh ra cho đến nay vẫn sinh sống cùng anh Hảo, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, việc giao cháu Dương cho anh Hảo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ đảm bảo hơn chị Vân. Ngoài ra, thông qua gia đình chị Vân cho biết ý kiến chị Vân đồng ý giao con chung cho anh Hảo chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh Hảo. Giao cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh ngày 10/9/2006 cho anh Hảo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu Dương đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của cháu Dương cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Đỗ Thị Vân có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Vân thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Đỗ Thị Vân có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Hảo không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ: Do anh Hảo không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Nguyễn Văn Hảo phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Hảo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Vân đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Hảo.
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Hảo được ly hôn chị Đỗ Thị Vân.
-
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy Dương, sinh ngày 10/9/2006 cho anh Nguyễn Văn Hảo là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Dương đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Đỗ Thị Vân không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị Vân thực hiện quyền này.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn Hảo phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001082 ngày 27/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Văn Hảo đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Văn Hảo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Đỗ Thị Vân có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 201/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 201/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh H và chị V
