Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 201/2024/HSST

Ngày 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hỗ Sĩ Tiến

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thơ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 18/6/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐỨC M, sinh năm 1993 tại Hà Nội.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: phòng trọ không số đường T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 10/12, Nghề nghiệp: lao động tự do; T: Nguyễn Văn T, sinh năm 1966; Tên mẹ: Phùng Thị T1, sinh năm 1970; Có 02 anh em; bị cáo là con thứ 02; Vợ tên: Nguyễn Thị Q; sinh năm 1997; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa chỉ: phòng trọ không số Đ, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Dư H, sinh năm 1982; địa chỉ: số A đường H, phường A, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  2. Ông Võ Thanh H1, sinh năm 1974; đi9ạ chỉ: Tổ B ấp B, xã H, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  3. Ông Mai Lộc T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố E, phường P, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  4. Ông Thuận Ngọc T3, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố C, phường P, Tp , tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (văng mặt).
  5. Chu Quang G, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn V, xã V, huyện B, Tp.Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2023, Nguyễn Đức M1 quen biết với người tên T4 (tên thường gọi là N, không rõ nhân thân lai lịch). T4 nói M1 vào Vũng Tàu để làm cho T4 trong hoạt động cho vay tiền và T4 sẽ trả lương cho M1 5.000.000đ/tháng, ngoài ra M1 còn được hưởng tiền phí dịch vụ. Khoảng tháng 8/2023, M1 vào Vũng Tàu thuê phòng trọ không số đường T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm việc cho T4. Công việc của M1 cụ thể như sau: M1 in tờ rơi có thông tin “Cho vay tiền LH: 0932445266” đi dán cột điện, tường nhà, rải tờ rơi ....Với mức lãi suất từ 20% đến 30%/tháng, thời hạn từ 23 đến 25 ngày, có trường hợp 31 ngày, tức lãi suất từ 0,77%/ngày đến 1%/ngày. M1 tìm khách vay để T4 kiểm tra thông tin, nếu đủ điều kiện sẽ cử người đến giao tiền cho M1 để M1 đưa cho khách và đi thu tiền góp từ khách hàng ngày, sau đó người của T4 đến thu lại tiền từ M1. Cũng trong khoảng thời gian này, M1 gặp Chu Quang G, sinh năm 1998; thường trú: thôn V, xã V, huyện B, Tp . Hà Nội, làm thợ hớt tóc là người cùng quê, sau đó G về ở trọ chung với M1. G thấy việc M1 cho người khác vay tiền với lãi suất cao thu được nhiều lợi nhuận nên G đã một mình tự tìm kiếm người vay tiền để thực hiện hoạt động cho vay lãi nặng với hình thức cho vay tương tự như của T4, M1 nhưng G làm riêng, tuy nhiên chỉ làm việc được với 01 người vay tiền của G, những người còn lại G không còn nhớ thông tin, địa chỉ cụ thể.

Cách thức, mức độ cho vay và thu lợi bất chính của M1 được tính như sau:

Lãi suất theo quy định pháp luật mỗi ngày bằng 20%/365 ngày x Tiền vay.

Lãi suất mỗi ngày = Lãi suất thỏa thuận/chu kỳ vay (24 hoặc 25 ngày)

Tiền lãi mỗi ngày = Lãi suất mỗi ngày x T5 vay

Tiền lãi đã thu = Tiền lãi mỗi ngày x Số ngày đã trả

Tiền lãi được hưởng theo quy định pháp luật đã thu =Tiền lãi được hưởng theo quy định pháp luật mỗi ngày x Số ngày trả.

Vậy, tiền thu lợi bất chính = Tiền lãi đã thu - Tiền lãi được hưởng theo quy định pháp luật đã thu + Số tiền phí dịch vụ.

Ví dụ cụ thể: Hợp đồng vay 10.000.000 đồng với lãi suất hợp đồng là 20% trả trong vòng 25 ngày:

Tiền lãi của hợp đồng: 20% x 10.000.000₫ = 2.000.000₫.

Tổng tiền phải trả: 10.000.000đ + 2.000.000đ = 12.000.000đ.

Tiền thu mỗi ngày: 12.000.000đ /1(ngày) = 480.000₫.

Tiền thu mỗi ngày 480.000đ là gồm tiền gốc và lãi tức trong 480.000 đồng có tiền lãi thu mỗi ngày là: 2.000.000đ/25 (ngày) = 80.000đ.

Khi đóng đủ 20 ngày tức 20 (ngày) x 480.000₫ = 9.600.000đ. Khách hàng xin đáo hạn vay mới 10.000.000đ cùng lãi suất và chu kỳ vay như hợp đồng cũ (20% trong 25 ngày) thì:

Tiền thiếu của hợp đồng cũ: 12.000.000₫ – 9.600.000₫ = 2.400.000₫

Tiền đưa cho khách trong hợp đồng mới: 10.000.000₫ – 2.400.000đ = 7.600.000₫.

Vậy khi đáo hạn mới chỉ cần đưa cho khách 7.600.000đ thì khách phải trả nợ như một hợp đồng vay 10.000.000đ, người này vẫn phải trả mỗi ngày 480.000đ trong vòng 25 ngày, tổng phải trả là 12.000.000đ.

- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã làm rõ được hành vi cho vay lãi nặng của M1 đối với 04 người gồm:

  1. Bà Lê Thị Dư H, bị cáo cho vay 03 lần:
    • Lần 1: vay số tiền 5.000.000đ vào ngày 28 tháng 09 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
    • Lần 2: vay số tiền 5.000.000đ vào ngày 13 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
    • Lần 3: vay số tiền 8.000.000đ vào ngày 26 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 400.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 550.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định. Chị H đã trả được 4.600.000đ.
  2. Ông Võ Thanh H1, bị cáo cho vay 03 lần:
    • Lần 1: vay số tiền 20.000.000đ vào ngày 14 tháng 9 năm 2023, trả mỗi ngày 1.000.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 1.400.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
    • Lần 2: vay số tiền 40.000.000đ vào ngày 04 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 1.600.000đ trong vòng 31 ngày, thu tiền phí 2.800.000đ, lãi suất theo ngày là 0,77%, gấp 14,13 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
    • Lần 3: vay số tiền 50.000.000đ vào ngày 24 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 2.000.000đ trong vòng 31 ngày, thu tiền phí 3.500.000đ, lãi suất theo ngày là 0,77%, gấp 14,13 lần lãi suất quy định. Chị H1 đã trả được 28.000.000đ.
  3. Ông Mai Lộc T2, bị cáo cho vay 01 lần:
    • số tiền 5.000.000đ vào ngày 28 tháng 9 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  4. Ông Thuận Ngọc T3, bị cáo cho vay 01 lần:
    • số tiền 15.000.000đ vào ngày 20/10/2023, trả mỗi ngày 750.000₫ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 700.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.

Tổng số tiền cho vay là 148.000.000 đồng, với mức lãi suất 0,77%/ngày đến 1%/ngày, trong đó thu phí dịch vụ là 10.500.000 đồng, thu lãi vượt mức qui định là: 26.146.478 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 36.646.478đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng).

- Quá trình điều tra xác định và làm việc được với 01 người vay của Chu Quang G. Tổng số tiền thu lợi bất chính của G là 4.339.863đ (bốn triệu ba trăm ba mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi ba đồng).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T6.Vũng Tàu, Nguyễn Đức M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (Bút lục điều tra từ số B).

Cụ thể:

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A7 32GB, màu xanh là của Nguyễn Đức M1;
  • 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave, màu xanh, Biển kiểm soát 72D1 – 495.62; số máy JA39E2285623; số khung RLHJA3928MY167480 do Nguyễn Văn H2, sinh năm 1987, thường trú: khu phố C, phường P, Tp . đứng tên chủ sở hữu. M1 khai mua lại xe trên chưa sang tên. Anh H2 khai nhận đã bán xe trên cho một người không nhớ lai lịch, anh H2 không yêu cầu gì. Cơ quan CSĐT đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu.

Vật chứng trên hiện chuyển Cơ quan thi hành án dân sự thành phố V quản lý chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Những người vay tiền mà cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc, họ không yêu cầu nhận lại số tiền bị thu lợi bất chính từ các hợp đồng vay của mình.

Bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 14/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức M1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 50 (năm mươi) đến 60 (sáu mươi) triệu đồng.

* Về tiền thu lợi bất chính và xử lý vật chứng, đề nghị:

T5 thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Đức M1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 36.646.478đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng).

- Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave, màu xanh, Biển kiểm soát: 72D1 – 495.62; số máy JA39E2285623; số khung RLHJA3928MY167480, bị cáo mua chưa sang tên, cơ quan điều tra thông báo truy tìm người liên quan, chủ sở hữu nhưng không phát sinh vấn đề, người liên quan. Tại tòa, bị cáo xác định đây chính là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Nên đề nghị tịch thu sung công quỹ.
  • Tịch thu phương tiện phạm tội là 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A7 32GB màu xanh thu của Nguyễn Đức M1, do bị cáo khai nhận đã dùng điện thoại này để cài đặt sim số ghi trên tờ rơi để rao thông tin, liên lạc tìm khách hàng vay, liên lạc để giao thu tiền góp.

* Đề nghị không buộc bị cáo nộp khoản tiền gốc cho vay, vì bị cáo chỉ là người làm công, hoàn cảnh khó khăn.

* Các khoản tiền gốc, lãi...chưa thanh toán, bị cáo và người vay chưa hoặc không yêu cầu giải quyết trong vụ án. Khi có căn cứ, có yêu cầu có quyền khởi kiện ở vụ kiện dân sự khác.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh hiện tại của bị cáo khó khăn, vợ không có việc làm, đang nuôi con nhỏ, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai của những người tham gia tố tụng này. Nên việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Hành vi của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra là thống nhất, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Năm 2023, Nguyễn Đức M1 quen biết với người tên T4 (tên thường gọi là N, không rõ nhân thân lai lịch). T4 nói M1 vào Vũng Tàu để làm cho T4 trong hoạt động cho vay tiền với mức lương là 5.000.000đ/tháng, ngoài ra M1 còn được hưởng tiền phí dịch vụ. Khoảng tháng 8/2023, M1 vào Vũng Tàu thuê phòng trọ không số đường T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm việc cho T4. Công việc của M1 cụ thể như sau: M1 in tờ rơi có thông tin “Cho vay tiền LH: 0932445266” đi dán cột điện, tường nhà, rải tờ rơi ....Với mức lãi suất từ 20% đến 30%/tháng, thời hạn từ 23 đến 25 ngày, có trường hợp 31 ngày, tức lãi suất từ 0,77%/ngày đến 1%/ngày. M1 tìm khách vay để T4 kiểm tra thông tin, nếu đủ điều kiện sẽ cử người đến giao tiền cho M1 để M1 đưa cho khách và đi thu tiền góp từ khách hàng ngày, sau đó người của T4 đến thu lại tiền từ M1. Với cách thức, mức độ cho vay như đã nêu trên, quá trình điều tra làm rõ được 04 người vay của T4 và M1; cụ thể:

  1. Bà Lê Thị Dư H, bị cáo cho vay 03 lần:
  • Lần 1: vay số tiền 5.000.000đ vào ngày 28 tháng 09 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  • Lần 2: vay số tiền 5.000.000đ vào ngày 13 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  • Lần 3: vay số tiền 8.000.000đ vào ngày 26 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 400.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 550.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định. Chị H đã trả được 4.600.000đ.
  1. Ông Võ Thanh H1, bị cáo cho vay 03 lần:
  • Lần 1: vay số tiền 20.000.000đ vào ngày 14 tháng 9 năm 2023, trả mỗi ngày 1.000.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 1.400.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  • Lần 2: vay số tiền 40.000.000đ vào ngày 04 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 1.600.000đ trong vòng 31 ngày, thu tiền phí 2.800.000đ, lãi suất theo ngày là 0,77%, gấp 14,13 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  • Lần 3: vay số tiền 50.000.000đ vào ngày 24 tháng 10 năm 2023, trả mỗi ngày 2.000.000đ trong vòng 31 ngày, thu tiền phí 3.500.000đ, lãi suất theo ngày là 0,77%, gấp 14,13 lần lãi suất quy định. Chị H1 đã trả được 28.000.000đ.
  1. Ông Mai Lộc T2, bị cáo cho vay 01 lần:
  • số tiền 5.000.000đ vào ngày 28 tháng 9 năm 2023, trả mỗi ngày 250.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 300.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.
  1. Ông Thuận Ngọc T3, bị cáo cho vay 01 lần:
  • số tiền 15.000.000đ vào ngày 20/10/2023, trả mỗi ngày 750.000đ trong vòng 25 ngày, thu tiền phí 700.000đ, lãi suất theo ngày là 1%, gấp 18,25 lần lãi suất quy định, đã trả hết.

Như vậy, T4 và M1 đã thực hiện cho 04 cá nhân vay với tổng số tiền: 148.000.000 đồng, với mức lãi suất 0,77%/ngày đến 1%/ngày, trong đó thu phí dịch vụ là 10.500.000 đồng, thu lãi vượt quá qui định là: 26.146.478 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 36.646.478đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức M1 đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

* Đối với người tên T4 (chưa rõ nhân thân lai lịch) CQĐT tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, đủ căn cứ xử lý sau.

* Đối với đối tượng Chu Quang G: Quá trình điều tra xác định và làm việc được với 01 người vay của G là ông K Vũ Trường G1, sinh năm 1996; địa chỉ: 1 Đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vay của Chu Quang G tổng cộng 3 lần; mỗi 5.000.000đ (năm triệu đồng), lãi suất 1%/ngày, phí 500.000d (năm trăm ngàn/lần), gấp 18,25 lần so với qui định. Tổng số tiền thu lợi bất chính của Chu Quang G là 4.339.863đ (bốn triệu ba trăm ba mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi ba đồng). Hành vi của G có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng nhưng tiền thu lợi bất chính của bị cáo chưa đủ định lượng trong

cấu thành tội phạm nên CQĐT ra quyết định xử phạt hành chính đối với G là có căn cứ.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo M1 gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; hành vi phạm tội của bị cáo còn tiềm ẩn các điều kiện làm phát sinh những hành vi phạm pháp khác mà trong thời gian qua đã xảy ra như: Cố ý gây thương tích, cưỡng đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản... Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi nhuận nên vẫn thực hiện. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an cho xã hội. Do đó, cần tuyên mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội để đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

[6] Về trách nhiệm dân sự, thu lợi bất chính:

[6.1] T5 thu lợi bất chính:

Quá trình làm việc, người vay không có ý kiến hoặc không yêu cầu nhận lại số tiền thu lợi bất chính từ các hợp đồng vay của mình. Nên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 36.646.478đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền gốc cho vay: Xét thấy các lần cho vay, có trường hợp chưa hết thời hạn hợp đồng đã đáo hạn. Nên thực tế tổng số tiền cho vay của bị cáo không phải là tổng số tiền của các lần cho vay. Ngoài ra, cũng có người vay nhưng chưa trả hết gốc và lãi. Trong vụ án này, bị cáo chỉ là người làm công cho T4, khoản tiền gốc không phải của bị cáo nên cũng không được nhận, hưởng lợi khoản này. Bị cáo tham gia cho vay cùng với T4 là cá nhân tự phát cho vay lãi mà không phải kiểu cho vay mang tính chất xã hội đen, qui mô, gây sức ép cho người vay. Hoàn cảnh bị cáo khó khăn. Nên Hội đồng xét xử quyết định không buộc bị cáo nộp số tiền được đánh giá là phần tiền gốc đã cho vay.

[6.2] Trách nhiệm dân sự: Những khoản lãi suất, tiền gốc chưa trả... Bị cáo và người vay không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Khi có yêu cầu được quyền yêu cầu giải quyết ở vụ kiện dân sự khác.

[7] Về xử lý vật chứng: Đề xuất xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận, cụ thể:

  • 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave, màu xanh, Biển kiểm soát 72D1- 495.62; số máy JA39E2285623; số khung RLHJA3928MY167480, bị cáo mua chưa sang tên, cơ quan điều tra thông báo truy tìm người liên quan, chủ sở hữu nhưng không phát sinh vấn đề, người liên quan. Tại tòa, bị cáo xác định đây

chính là phương tiện duy nhất bị cáo dùng di chuyển để phát, dán tờ rơi, tìm khách hàng vay, thu tiền góp hàng ngày. Nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A7 32GB, màu xanh là của Nguyễn Đức M1 là phương tiện phạm tội (dùng điện thoại và số điện thoạn in trên tờ rơi nhằm kết nối, liên lạc với người vay, thu tiền góp) nên sung công quỹ Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự,
    • - Xử phạt Nguyễn Đức M1 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).
  2. Tiền thu lợi bất chính, vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
    • - T5 thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Đức M1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 36.646.478đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn bốn trăm bảy mươi tám đồng) sung công quỹ Nhà nước.
    • - Vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng là phương tiện phạm tội gồm:
      • + 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 72D1- 495.62; số máy JA39E2285623; số khung RLHJA3928MY167480.
      • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A7 32GB, màu xanh.
    • Thực hiện xử lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 176/BB.CCTHADS ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu
  3. Trách nhiệm dân sự: Khoản tiền gốc, lãi chưa thanh toán, bị cáo và người vay không hoặc chưa có ý kiến, yêu cầu giải quyết trong vụ án. Khi có yêu cầu có quyền khởi kiện ở vụ kiện dân sự khác.
  4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Riêng những người có quyền kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh BR-VT (PV06, PC10);
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 201/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger