|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 201/2024/HS-PT Ngày 23/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.
Ông Nguyễn Gia Lương.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 23/10/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 224/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 170/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
*Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn X (đã chết) và con bà: Đỗ Thị T1; bị cáo có vợ: Đỗ Thị Đ, sinh năm 1977 và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).
Trong vụ án còn có các bị cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị do đó Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Đức T2 được Công ty TNHH P thuộc Khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giao cho làm chủ quản kho phế liệu có trách nhiệm quản lý, kiểm kê tài sản trong kho của Công ty từ 08/6/2023; Vũ Đức T3 làm công nhân bộ phận cơ điện của Công ty TNHH P từ tháng 9 năm 2019, Nguyễn Văn T làm Bảo vệ của Công ty cổ phần D và được Công ty phân công bảo vệ cho Công ty TNHH P từ tháng 02 năm 2023. Quá trình làm việc tại Công ty T4 có quen biết với T3, đồng thời T2 và T3 đều biết trong kho phế liệu của Công ty (do T2 quản lý) có nhiều cuộn dây cáp điện đen trắng, loại 1x35mm2 chưa qua sử dụng đã lâu Công ty không dùng đến, Thoại kiểm tra trên hệ thống của Công ty không thấy theo dõi, quản lý nên khoảng cuối tháng 8 năm 2023, T2 và T3 cùng rủ nhau chiếm đoạt các cuộn dây cáp điện trên mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong thời gian từ ngày 22/9/2023 và ngày 25/9/2023 Đào Đức T2 và Vũ Đức T3 đã thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt dây cáp điện của Công ty TNHH P, trong đó ngày 25/9/2023 có Nguyễn Văn T tham gia cùng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Buổi sáng ngày 22/9/2023, Đào Đức T2 và Vũ Đức T3 gặp nhau tại nhà để xe của công ty (nơi T2, T3 làm việc) cả hai thống nhất sau khi tan ca làm cùng ngày sẽ vào kho phế liệu của Công ty để chiếm đoạt dây cáp điện; Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T2 dùng chìa khóa kho mở cửa kho phế liệu sau đó cùng T3 đi vào trong kho, để tránh sự phát hiện T3 đã dùng 01 thanh kim loại có sẵn ở trong kho điều chỉnh hướng chiếu của C được lắp đặt bên trong kho sang hướng khác, sau đó T2 lấy 04 cuộn dây cáp điện đen trắng, loại 1x35mm2 chưa qua sử dụng được cuộn tròn và bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh, mỗi cuộn dây cáp điện đều có chiều dài 100m đặt lên xe kéo tay có sẵn của Công ty rồi kéo ra cửa kho. Sau đó, T3 dùng thanh kim loại điều chỉnh lại hướng chiếu của camera như cũ rồi kéo xe kéo chở 04 cuộn dây cáp điện về phòng làm việc của T3, còn T2 đến nhà để xe lấy xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu sơn đen, biển số 98A- 674.22 của T2 điều khiển xe ra gần cửa sổ phòng làm việc của T3, sau đó T3 đưa các cuộn dây cáp điện qua cửa sổ cho T2 đứng bên ngoài để T2 bê cất giấu vào trong xe ô tô. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày T2 điều khiển xe ô tô 98A- 674.22 chở T3 cùng 04 cuộn dây cáp điện đến cửa hàng vật liệu xây dựng “Vãng Hà” của chị Lê Thị H, sinh năm 1970, ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để tiêu thụ. Tại đây T3 gặp chị H và nói với chị H số cuộn dây cáp điện nêu trên là tài sản thanh lý của Công ty nên thỏa thuận bán 04 cuộn dây cáp điện cho chị H với giá tiền 4.000.000 đồng/01 cuộn được 16.000.000đ. Chị H đồng ý và
thanh toán cho T3 bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng A số 15142717 của chị H đến tài khoản Ngân hàng T5 số 19034982155013 của T3 (T3 đã sử dụng chiếc điện thoại di động Iphone X đăng ký tài khoản banking), sau đó T3 đã sử dụng số tài khoản này để chuyển vào số tài khoản Ngân hàng V số 0368914492 (do T2 sử dụng điện thoại Iphone 13 màu đen của T2 đăng ký banking) để chia cho T2 số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền này T3 và T2 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đối với số cuộn dây cáp này, chị H đã bán cho khách hàng đến thu mua (chị H không rõ tên tuổi, địa chỉ) và không nhớ là bán được bao nhiêu tiền nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Lần thứ hai: khoảng 7 giờ ngày 25/9/2023, T2 gặp T3 tại nhà để xe của Công ty, sau đó cả hai rủ nhau sau khi tan ca làm sẽ tiếp tục chiếm đoạt các cuộn dây cáp điện trong kho phế liệu của Công ty, T2 thỏa thuận với T3 khi nào T2 lấy được các cuộn dây cáp điện thì T2 sẽ điện thoại gọi để T3 đến kéo về phòng làm việc rồi cùng nhau mang đi tiêu thụ. Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 25/9/2023, T2 mở cửa kho phế liệu, sau đó xếp 19 cuộn dây cáp điện đen trắng, loại 1 x 35mm2 (chưa qua sử dụng) được cuộn tròn và bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh, mỗi cuộn dây cáp điện đều có chiều dài 100m lên 01 palet bằng gỗ rồi che kín bằng bạt màu xanh, sau đó khóa cửa kho và rời đi. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi tan ca mọi người về hết. Thoại mở cửa kho phế liệu rồi điều khiển xe nâng của công ty vào trong kho để nâng palet chứa 19 cuộn dây cáp điện trên ra ngoài kho và để ở cửa kho rồi dùng điện thoại Iphone 13 màu đen gọi qua ứng dụng Z cho T3 đến dùng xe kéo tay kéo palet chứa 19 cuộn dây cáp điện về phòng làm việc. Trong khi T3 dùng xe kéo tay để kéo palet chứa 19 cuộn dây cáp điện về phòng làm việc thì T2 đi cất xe nâng đồng thời lấy xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu sơn đen, biển số 98A- 674.22 của T2 điều khiển ra vị trí gần cửa sổ phòng làm việc của T3 rồi cùng với T3 đưa các cuộn dây cáp điện qua cửa sổ cho T2 đứng bên ngoài để T2 cất vào trong xe ô tô. Lúc này, T2 quan sát thấy Nguyễn Văn T là nhân bảo vệ ca đêm của Công ty đến kiểm tra, lo sợ T phát hiện nên T2 bật nắp capo của xe ô tô lên và giả vờ nói với T là xe đang bị hỏng nhờ T3 kiểm tra hộ nên T không nói gì và quay lại chốt bảo vệ. T2 đi theo T lại gần chốt bảo vệ để nói chuyện với T còn T3 ở lại chuyển các cuộn dây cáp điện từ trong phòng làm việc ra và cất giấu vào bên trong xe ô tô. Khi T3 đang chuyển các cuộn dây cáp điện ra cất giấu vào trong xe ô tô thì T tiếp tục cầm đèn pin đi tuần tra và lại gần xe ô tô của T2. Thấy vậy, T3 dừng lại và đi vào trong xe ô tô ngồi còn T đi lại gần xe ô tô soi đèn pin kiểm tra thì phát hiện hành vi chiếm đoạt dây cáp điện của T2 và T3 nhưng T không nói gì và quay lại chốt bảo vệ phía cổng Công ty. Lúc này, T2 biết T đã phát hiện ra việc T2 và T3 đang chiếm đoạt các cuộn dây cáp điện của Công
ty nên T2 đi theo T ra chốt bảo vệ để nói chuyện. Thoại gọi điện qua ứng dụng Z cho T3 rồi đưa điện thoại cho T để T nói chuyện với T3, T3 thú nhận với T đã lấy các cuộn dây cáp điện của Công ty và nhờ T cho mang số cuộn dây này ra ngoài công ty thì T yêu cầu T3 mang trả lại nhưng sau đó T3 nói số dây điện này không nằm trên hệ thống quản lý đồng thời sẽ bồi dưỡng cho T nên T không nói gì, T2 tiếp tục nói với T sẽ bồi dưỡng cho T 10.000.000 đồng thì T đồng ý. Sau đó, trong khi T2 đi bộ ra xe ô tô với T3 để bê nốt số dây cáp điện lên xe thì lúc này T ra mở cổng Công ty cho xe ô tô của Thoại qua, đồng thời khi ngồi trên xe ô tô thì T2 nói với T3 sẽ chia cho T số tiền 10.000.000 đồng thì T3 đồng ý.
Sau khi cất giấu được 19 cuộn dây cáp điện vào trong xe ô tô, lúc này khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe ô tô chở các cuộn dây cáp điện còn T3 đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen, đỏ, biển số 98B1- 844.57 đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Hải Y (vợ T3) đi phía sau để cùng mang đi tiêu thụ, cả hai mang 19 cuộn dây cáp điện vừa chiếm đoạt được đến cửa hàng tổng hợp của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980, ở thôn B, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để bán. Tại đây, T3 và T2 cùng vào thỏa thuận bán các cuộn dây cáp điện cho chị H1, khi chị H1 hỏi về nguồn gốc số dây cáp này thì T3 nói dối chị H1 là dây cáp điện mua thanh lý được của Công ty. Sau khi kiểm tra các cuộn dây cáp điện trên thì chị H1 đồng ý mua của T2 và T3 với giá tiền 4.600.000 đồng/ 01 cuộn, tổng số tiền 19 cuộn dây cáp điện là 87.400.000 đồng, sau đó chị H1 đã sử dụng số tài khoản 2502205374896 Ngân hàng A1 qua hệ thống banking của mình để chuyển số tiền này đến số tài khoản 19034982155013 Ngân hàng T5 của T3. Đồng thời, T2 và T3 thống nhất chia cho T 10.000.000đ còn lại chia đôi mỗi người được 38.700.000 đồng, do trước đó T3 đang nợ tiền của T2 24.000.000 đồng nên T3 đã chuyển khoản tổng số tiền 72.700.000 qua hệ thống banking cho T2. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T2 đã đến cây ATM rút số tiền 10.000.000đ từ tài khoản của T2, sau đó điện thoại qua ứng dụng Zalo hẹn T ra cổng công ty để đưa cho T số tiền này.
Đối với 19 cuộn dây cáp điện này, sau đó chị H1 đã bán cho 02 người đàn ông không quen biết (được bao nhiêu tiền chị H1 không nhớ) do vậy Cơ quan điều tra cũng không thu hồi được.
Đến ngày 02/02/2024, Công ty TNHH P kiểm kê hàng trong kho phế liệu thì phát hiện hành vi chiếm đoạt 23 cuộn dây cáp điện nên đã làm đơn trình báo Đồn Công an Q, thị xã V.
Ngày 02/02/2024, Vũ Đức T3 đến Đồn Công an Q đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp: 01 điện thoại Iphone X màu đen số máy MTE02J/A số seri C39YX058KPGG.
Ngày 02/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Đức T2 và Vũ Đức T3, kết quả không thu tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 24/02/2024 và ngày 29/02/2024 Đào Đức T2 và Nguyễn Văn T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình; đồng thời, T2 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đào Đức T2 và T giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bên trong lắp 01 sim số 0976.655.136.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng của Đào Đức T2 và Vũ Đức T3; chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị H1, kết quả xác định: phần nội dung giao dịch đều thể hiện các ngày 22/9/2023 và ngày 25/9/2023 thể hiện chị H chuyển khoản cho T3 số tiền 16.000.000đ; chị H1 chuyển khoản cho T3 số tiền 87.400.000đ và T3 chuyển khoản cho T2 số tiền: 72.700.000đ.
Ngày 30/3/2024, chị Đỗ Thị Đ (vợ bị cáo T) tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V số tiền 10.000.000 đồng là tiền liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T.
Ngày 08/5/2024, anh Phạm Văn H2 đã giao nộp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu sơn đen biển kiểm soát 98A- 674.22 do Đào Đức T2 dùng để vận chuyển số dây cáp điện đã chiếm đoạt của Công ty.
Ngày 17/5/2024, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen, đỏ, biển số 98B1 - 844.57 của Vũ Đức T3 liên quan đến hành vi phạm tội (chiếc xe này ngày 31/01/2024 T3 vi phạm nồng độ cồn nên đã bị Công an huyện L tạm giữ) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận, tổng trị giá: 210.438.500 đồng (trong đó: 01 mét dây cáp điện đen trắng, loại 1x35 mm2 chưa qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tháng 9/2023 là 91.495 đồng; 400 mét dây cáp điện đen trắng, loại 1x 35 mm2 chưa qua sử dụng có giá trị là 36.598.000 đồng; 1900 mét dây cáp điện đen trắng, loại 1x35 mm2 chưa qua sử dụng có giá trị là 173.840.500 đồng).
Về vật chứng của vụ án: Đối với 23 cuộn dây cáp điện T3 và T2 chiếm đoạt của Công ty TNHH P, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với số cuộn dây cáp điện nêu trên nhưng không thu hồi được.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu sơn đen biển kiểm soát 98A- 674.22 đăng ký mang tên Đào Đức T2, trước đó T2 sử dụng để chở số cuộn
dây cáp điện đi tiêu thụ trong các ngày 22/9/2023 và ngày 25/9/2023 do anh Phạm Văn H2 giao nộp, theo anh H2 trình bày, chiếc xe ô tô này tháng 11 năm 2023, T2 đã bán cho anh H2 và chị C1 (vợ anh H2) với số tiền: 220.000.000 đồng nhưng hai bên không làm hợp đồng và chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ;
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đen, đỏ, biển số 98B1- 844.57 là tài sản cá nhân của chị Nguyễn Thị Hải Y (vợ T3) không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 căn cước công dân mang tên Đào Đức T2 là của bị cáo T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen là tài sản của Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc điện thoại di động Nguyễn Văn T dùng để liên lạc với Đào Đức T2, sau đó chiếc điện thoại đã bị hỏng, T đã vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Số vật chứng trên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Đào Đức T2 đã tác động gia đình là chị Đoàn Thị H3 bồi thường cho Công ty TNHH P số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo T đã tác động chị Đỗ Thị Đ bồi thường cho Công ty TNHH P số tiền 50.000.000 đồng, trong đó có 10.000.000 đồng nộp cơ quan điều tra đã chuyển thi hành án và anh Đỗ Văn M bồi thường tiếp cho Công ty 40.000.000 đồng), đến nay Công ty không yêu cầu T bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T. Bị cáo T3 tác động ông Vũ Đức C2 là bố đẻ đã bồi thường trực tiếp cho công ty số tiền 75.000.000 đồng. Nay tại phiên toà Công ty đã nhận đủ giá trị tài sản do các bị cáo chiếm đoạt theo giá trị định giá là 210.438.500 đồng và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo.
Đối với số tiền 10.000.000 đồng bị cáo T nộp tại cơ quan điều tra đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, do Công ty TNHH P đã nhận đủ nên không nhận số tiền này.
Đối với số tiền 4.561.500 đồng do ông Vũ Đức C2 bồi thường thừa (theo tính toán của Công ty TNHH P) Công ty và ông Vũ Đức C2 tự giải quyết không yêu cầu toà án giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số: 164/CT-VKS ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Đào Đức T2, Vũ Đức T3 về tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn T về tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm c, điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với T2, Đ1, tuyên hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/8/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo với nội dung: Bản án của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử đối với bị cáo là nặng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 28/8/2024, bị cáo Đào Đức T2 kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là nặng, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 08/9/2024, bị cáo Đào Đức T2 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, việc xin rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Thông báo về việc xin rút đơn kháng cáo của bị cáo ngày 09/10/2024.
*Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày như sau: bản án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhưng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội 03 năm nhưng chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm, bị cáo có thời gian làm Công an viên của xã T, bị cáo có 02 mẹ già phải chăm sóc, bản thân bị cáo bị bệnh tật nhiều, gia đình bị cáo đã ủng hộ cho quỹ nạn nhân chất độc màu da cam 02 triệu đồng năm 2023, nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy Tòa án sơ thẩm đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm :
- Bị cáo Đào Đức T2 đã rút đơn kháng cáo trước khi xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo của bị cáo nên không xem xét giải quyết.
- Căn cứ điểm b khoản 1Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử
phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo trình bày tranh luận: đề nghị xem xét cho bị cáo giảm nhẹ mức án nhẹ hơn mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: các bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị do đó Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
Bị cáo Đào Đức T2 kháng cáo, nhưng trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có thông báo về việc rút kháng cáo của bị cáo, Bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với bị cáo T2 từ ngày Thông báo về việc rút đơn kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2]. Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nhận định là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận:
Lợi dụng là chủ quản kho phế liệu có trách nhiệm quản lý tài sản trong kho của Công ty TNHH P thuộc Khu công nghiệp V, thị xã V, ngày 22/9/2023 Đào Đức T2 đã cùng với Vũ Đức T3 là công nhân bộ phận cơ điện của Công ty đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 04 cuộn dây cáp điện đen trắng, loại 1x35mm2 trong kho chưa qua sử dụng với giá trị: 36.598.000 đồng; ngày 25/9/2023 Đào Đức T2, Vũ Đức T3 và Nguyễn Văn T là nhân viên bảo vệ của Công ty đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 19 cuộn dây cáp điện đen trắng, loại 1x35mm2 chưa qua sử dụng tại kho của Công ty TNHH P với trị giá: 173.840.500 đồng, sau đó T2 và T3 đã mang bán tiêu thụ được số tiền 103.400.000 đồng và đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản là 23 cuộn dây cáp điện không thu hồi được có trị giá 210.438.500 đồng.
Do đó, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo :
Các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công nhiệm vụ cụ thể nên nây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn T làm bảo vệ công ty khi phát hiện các bị cáo Đào Đức T2, Vũ Đức T3 có hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty nhưng không quyết liệt vì lòng tham nên đã đồng phạm tiếp nhận ý chí tạo điều kiện cho các bị cáo Đào Đức T2, Vũ Đức T3 thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò giúp sức trong vụ án.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
-Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xử lý hành chính, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động tới gia đình chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, được Công ty TNHH P có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự với mức án 03 năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và không nặng.
Quá trình điều tra, ngày 30/3/2024 gia đình bị cáo Nguyễn Văn T đã giao nộp Quyết định của Trung đoàn B, sư đoàn C3 về việc thực hiện chế độ xuất ngũ đối với T nhưng bản án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo T là thiếu sót.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và gia đình bị cáo xuất trình được thêm căn cứ, tài liệu mới chứng minh nội dung kháng cáo của bị cáo gồm: bị cáo có 03 năm phục vụ trong quân đội; có xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo ủng hộ cho quỹ nạn nhân chất độc màu da cam của xã T số tiền 2.000.000đồng vào năm 2023 ; bị cáo có thời gian làm Công an viên của xã T từ năm 2016 đến năm 2023.
Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xét thấy bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, giúp sức không
đáng kể trong vụ án nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên toà là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Do đó, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 29/02/2024.
Cấm bị cáo T đảm nhiệm chức vụ liên quan đến quản lý tài sản trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
Bản án số 201/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tham ô tài sản
- Số bản án: 201/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Thạch. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. - Căn cứ điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Thạch 02 (Hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 29/02/2024.
