Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 201/2024/HSST

Ngày: 21 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phạm Thị Kiều;
  2. Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1996 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị M; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Trần Thị Hồng Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: 5 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: 5 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  2. Ông Bùi Văn G, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: F khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  3. Ông Trần Sinh T1, sinh năm 1985; địa chỉ: 4 khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng: Bùi Thị Trúc L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/5/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki GSX, biển số 49M1- 162.81 đi đến địa bàn phường T, thành phố T để tìm việc làm, khi đến đoạn trước cửa hàng C, đường Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy bà Trần Thị Hồng Đ đang đứng bán cà phê ở trên vỉa hè nên T dừng xe để mua nước đá. Lúc này, T nhìn thấy bà Đ để 01 chiếc điện thoại di động hiệu RedMi Note 12S màu đen trên bàn bán cà phê, bà Đ quay người vào bên trong thùng đá cạnh bàn bán cà phê để lấy nước đá, T nhìn quan sát xung quanh không có người nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên của bà Đ. Thực hiện ý định trên, T dùng tay phải lén lút lấy chiếc điện thoại di động trên rồi cất giấu vào phía trước đầu xe mô tô và và điều khiển xe khỏi hiện trường. Lúc này, bà Đ mới phát hiện chiếc điện thoại di động nên liền tri hô thì có ông Phạm Văn V (là chồng bà Đ) đi mua đồ ăn về tới hỏi sự việc thì bà Đ kể lại sự việc bị chiếm đoạt điện thoại và nói cho ông V biết về đặc điểm xe mô tô và hướng tẩu thoát của T để ông V đi theo định vị đuổi theo T. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang dừng xe mô tô trước cửa hàng Đ1, địa chỉ: E N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương do bà Bùi Thị Trúc L làm chủ, để nhờ mở khóa mật khẩu điện thoại mới chiếm đoạt được thì bị ông V phát hiện và trình báo sự việc đến Công an phường A, thành phố D. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D lập hồ sơ chuyển đến đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 12S màu đen, gắn sim số 0379.006.350 và 0393.482.637.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki GSX 150, màu xanh đen, biển số 49M1- 162.81, số khung: RLSDL23DNJV102136, số máy: CGA2-952133.

Theo Biên bản định giá và Kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T ngày 22/5/2024 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12S màu đen, dung lượng 256GB có trị giá 4.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 215/CT-VKS-TA ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Quá trình điều tra, bị hại Trần Thị Hồng Đ xác định đã nhận tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12S màu đen, dung lượng 256GB, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị Hồng Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bà Đ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki GSX 150, màu xanh đen, biển số 49M1- 162.81, số khung: RLSDL23DNJV102136, số máy: CGA2-952133 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe là vật chứng thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên do ông Bùi Văn G, sinh năm 1998, HKTT: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, ông G khai nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho ông Trần Sinh T1 là chủ cửa hàng mua bán xe mô tô Tiền, địa chỉ tại: 4 khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Qua làm việc, ông T1 khai nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Văn T vào ngày 19/11/2022. Ông G, ông T1 không có yêu cầu gì đối với xe mô tô trên. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên là phương tiện bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 07 giờ 00 phút ngày 15/5/2024, tại khu vực trước cửa hàng C trên đường Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12S màu đen, dung lượng 256GB có trị giá 4.000.000 đồng của bà Trần Thị Hồng Đ và bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội với tội danh, điều, khoản như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố T là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12S màu đen, dung lượng 256GB, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị Hồng Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bà Đ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki GSX 150, màu xanh đen, biển số 49M1- 162.81, số khung: RLSDL23DNJV102136, số máy: CGA2-952133 đính kèm bản chính 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009736 ngày 05/7/2018 là vật chứng thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo T sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu SUZUKI GSX 150, dung tích xy lanh 147cm³, mang biển kiểm soát 49M1-162.81, số khung: RLSDL23DNJV102136, số máy: CGA2-952133 có đính kèm bản chính 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009736 đứng tên Bùi Văn G, đăng ký lần đầu ngày 05/7/2018 tại Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024)

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 201/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn văn Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger