Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 201/2025/DS-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2025

V/v tranh chấp các hợp đồng tín

dụng, thế chấp và cầm cố quyền sử dụng

đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thể Phượng và ông Nguyễn Văn Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang chính thức: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 821/2024/TLST-DS, ngày 18/12/2024 tranh chấp dân sự về “hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất”; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về tranh chấp “hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST-DS, ngày 19/11/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1). Địa chỉ: Số G, phố T, Phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội, do bà Ngô Thu H - chức vụ: Tổng Giám đốc làm đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo uỷ quyền cho Ngân hàng thương mại cổ phần S - Hà Nội: Ông Phan Văn T - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S, chi nhánh A. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm B, phường L, tỉnh An Giang làm đại diện, uỷ quyền lại cho ông Nguyễn Trịnh Anh T1, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S làm đại diện. Số điện thoại: 0963.667.xxx. (có mặt)

  1. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1971 và bà Võ Thị Bé B, sinh năm 1979. Cùng nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (Cùng nơi cư trú hiện tại: ấp B, xã B, tỉnh An Giang). Số điện thoại: 03549731xxx (vắng mặt)
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Huỳnh L, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (Nơi cư trú hiện tại: ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp).

Người đại diện theo uỷ quyền cho bà Phạm Thị Huỳnh L: chị Dương Thị Huỳnh N, sinh năm 1999. Nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (Nơi cư trú hiện tại: ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp). Số điện thoại: 0918.545.xxx. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải không được và tại phiên tòa ông Nguyễn Trịnh Anh T1 đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày ý kiến: Nguyên trước đây bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G vay vốn tại Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh A – Phòng G1 theo Hợp đồng tín dụng số: 0159/2016/HĐTDNH-CN/SHB.130701 ký ngày 08/06/2016 và các phụ lục có liên quan, cụ thể: Số tiền vay: 450.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi cá nàng hai; Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên. Lãi suất vay: Lãi suất cho vay trong hạn: là 11%/năm, mức lãi suất này được áp dụng đối với các khoản giải ngân phát sinh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Đối với các khoản giải ngân sau thời hạn này, mức lãi suất cho vay trong hạn được áp dụng theo quy định của S1 trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể giữa Khách hàng với S1. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, mức lãi suất được áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo tối thiểu bằng mức lãi suất cho vay (cùng đối tượng, khách hàng, kỳ hạn, loại tiền, ...) theo quy định của S1 tại thời điểm điều chỉnh. (S1 chỉ gửi thông báo cho khách hàng khi có điều chỉnh lãi suất). Lãi suất cho vay quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại kỳ tính lãi gần nhất so với thời điểm quá hạn. Lãi phạt chậm trả lãi: Trường hợp Khách hàng không thanh toán lãi đúng hạn, Khách hàng sẽ phải trả lãi phạt chậm trả lãi được tính theo mức lãi suất phạt chậm trả lãi trên số lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm thanh toán. Lãi suất phạt chậm trả lãi bằng 150% lãi suất vay trong hạn áp dụng tại kỳ tính lãi gần nhất so với thời điểm Khách hàng chậm trả lãi. Phí, thanh toán phí: Khách hàng thanh toán cho S1 các khoản phí theo quy định của S1 trong từng thời kỳ. Trả nợ gốc, lãi: Khách hàng phải trả hết nợ (gốc, lãi) cho S1 trong thời hạn vay và theo Lịch trả nợ, cụ thể: Trả nợ gốc: Trả nợ một lần: Khách hàng phải trả hết nợ gốc khoản vay vào ngày 08/06/2017; Trả nợ lãi: Khách hàng phải thực hiện việc trả lãi cho S1 01 tháng/lần vào ngày 25. Khách hàng phải trả lãi lần đầu tiên vào ngày 25/06/2016. Trường hợp ngày trả nợ trùng với ngày nghỉ của S1, Khách hàng trả nợ vào ngày làm việc tiếp theo.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên, bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G đã đồng ý thế chấp cho S1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 0160/2016/HĐTC-CN/SHB.130701 ngày 10/06/2016 đã được công chứng tại Văn phòng C – 299 N, khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 10/06/2016, đồng thời đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 10/06/2016. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên của Khách hàng tại S1 là: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 760, tờ bản đồ số 07, tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: I 0671053 (Số vào sổ cấp GCN: QSDĐ/A2) được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Thực hiện đúng Hợp đồng tín dụng, S1 đã giải ngân 270.000.000 đồng cho bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G theo đúng yêu cầu của bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G, cụ thể theo Khế ước nhận nợ sau đây: Khế ước nhận nợ số: 02-0159/2019/HĐTNH-CN/SHB.130701 ngày 10/06/2016; Số tiền vay là: 270.000.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm bảy mươi triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi cá nàng hai. Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 10/06/2016 đến ngày 08/06/2017); phương thức thanh toán: Trả nợ gốc : Vào ngày 08/06/2017, trả lãi: Trả lãi hàng tháng vào ngày 25; Lãi suất vay: lãi suất cho vay 11%/năm. Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm ngân, mức lãi suất áp dụng theo quy định của S1 tại thời điểm điều chỉnh (S1 chỉ gửi thông báo cho khách hàng khi có điều chỉnh lãi suất).

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho SHB nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 26/03/2017. Tạm tính đến hết ngày 09/12/2025, số tiền nợ tạm tính của khách hàng bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G phải trả cho S1 là 578.256.675; trong đó nợ gốc 225.000.000 đồng, nợ lãi là 353.256.675 đồng.

Kể từ ngày phát sinh nợ quá hạn, S1 đã nhiều lần yêu cầu Khách hàng Bà Võ Thị Bé B và Ông Nguyễn Thanh G thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S1 nhưng đến nay Khách hàng vẫn chưa trả được nợ. Như vậy Khách hàng Bà Võ Thị Bé B và Ông Nguyễn Thanh G đã vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ đã quy định tại Hợp đồng tín dụng và các hợp đồng, phụ lục liên quan khác đã ký với S1 nên S1 có đủ cơ sở để khởi kiện yêu cầu đòi nợ.

Nay, đại diện cho Ngân hàng yêu cầu: Buộc bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn lại của Hợp đồng tín dụng số: 0159/2016/HĐTDNH- CN/SHB.130701 ký ngày 08/06/2016 và các khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP S (S1), tạm tính đến ngày 09/12/2025 là 578.256.675 đồng (trong đó nợ gốc 225.000.000 đồng, nợ lãi là 353.256.675 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh từ ngày 10/12/2025 cho đến khi Khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ tại S1 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ kèm theo. Nếu bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ nêu trên cho S1 thì SHB được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ: Tài sản đảm bảo: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 760, tờ bản đồ số 07, tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: I 0671053 (Số vào sổ cấp GCN: QSDĐ/A2) được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị tòa án tuyên Bà Võ Thị Bé B và ông Nguyễn Thanh G phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S. Ngoài ra không yêu cầu nào khác.

* Bị đơn bà Võ Thị Bé B trình bảy ý kiến: bà và chồng tên Nguyễn Thanh G vay vốn tại Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh A – Phòng G1 Số tiền vốn vay: 450.000.000 đồng Thời hạn vay: 12 tháng. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên, chúng tôi thế chấp cho S1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 760, tờ bản đồ số 07, tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số I 0671053 (Số vào sổ cấp GCN: QSDĐ/A2) được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T kí đính chính sai sót ngày 30/01/2015.

Nay chúng tôi đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng hiện nay chưa có khả năng trả ngay, xin giảm số tiền lãi để thoảt thuận với bên cố đất chị L sẽ trả ngay cho phía ngân hàng số tiền vốn.

Ngoài ra, vào ngày 11/4/2014 chúng tôi có cho chị Phạm Thị Huỳnh L cố phần đất nông nghiệp DT 12.300m² (khoảng7,5 công tầm cắt) tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo giấy cố ghi tổng cộng là 7,5 công tầm cắt với giá là 200.000.000 đồng, thời hạn cố là 05 năm, đã đến hạn chuộc lại nhưng chúng tôi không có tiền chuộc lại nên cứ để cho chị L cố cho đến nay. Chúng tôi đồng ý trả cho chị L số tiền cố này nhưng hiện tại chưa có tiền, nều chị L đứng ra trả cho Ngân hàng thì chúng tôi sẽ bán phần đất cho chị L luôn trừ nợ do hiện tại chúng tôi không có tiền chuột lại đất.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Dương Thị Huỳnh N là người đại diện theo uỷ quyền cho bà Phạm Thị Huỳnh L trình bày: Vào ngày 11/4/2014 ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B có kêu chị L cố phần đất nông nghiệp với diện tích là 12.300m² tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp với tổng cộng khoảng 7,5 công tầm cắt, với giá là 200.000.000 đồng, thời hạn cố đất là 05 năm, nếu đến hạn không có tiền chuộc lại thì tôi cứ tiếp tục canh tác nhưng cho đến nay ông G, bà B1 bảy chưa có chuộc lại đất, đến ngày 22/4/2025 mới biết phần đất ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B bị Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) khởi kiện và Tòa án huyện T, tỉnh Đồng Tháp xem xét thẩm định tài sản thề chấp, hiện tại phần đất là do tôi trực tiếp canh tác cho đến nay. Nay tôi yêu cầu ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B trả lại số tiền cố đất là 200.000.000 đồng thì tôi sẽ trả lại phần đất nêu trên.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: căn cứ hợp đồng tín dụng số: 0159/2016/HĐTDNH-CN/SHB.130701 ký ngày 08/06/2016 giữa Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh A – Phòng G1 với ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B còn nợ của Ngân hàng tổng cộng số tiền vốn và lãi là 269.667.691 đồng (thời gian tạm tính đến ngày 26/9/2025) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán dứt nợ có căn cứ do bà B, ông G vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo thoả thuận hợp đồng khi đến hạn nên căn cứ theo quy định tại Điều 357, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với với tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay nhưng do ông G và bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ không đầy đủ Ngân hàng TMCP S cần duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án sau này.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: liên quan hợp đồng cầm cố đất, căn cứ hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất đề ngày 11/4/2014 giữa bà L với ông G, bà B là vi phạm điều cấm của pháp luật nên vô hiệu theo quy định tại Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về xử lý hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là buộc bà L phải trả lại phần diện tích đất nông nghiệp đã nhận cầm cố từ ông G, bà B gồm: diện tích 12.300m² (diện tích thực tế 10.309,3m²) thuộc tờ bản đồ số 7, thửa số 760 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 00581/QSDĐ/A2 được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 nên đủ căn cứ xem xét chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L tuyên bố hợp đồng cố quyền sử dụng đất giữa bà L với ông G, bà B được lập theo tờ thoả thuận cố đất đề ngày 11/4/2014 là vô hiệu và buộc ông G, bà B cùng trả lại số tiền cố đất là 200.000.000 đồng cho bà L.

Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại; chi phí đo đạc do Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm ứng trước và yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên các chi phí tố tụng do bị đơn ông G và bà B phải chịu theo quy định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L cũng không chịu chí phí này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức, thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng với bị đơn ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1971 và bà Võ Thị Bé B, sinh năm 1979. Cùng nơi cư trú hiện tại: ấp B, xã B, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B được tống đạt các văn bản tố tụng họp lệ nhưng không có mặt tại phiên toà nên HĐXX căn cứ vào Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông G, bà B.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 0159/2016/HĐTDNH-CN/SHB.130701 ký ngày 08/06/2016 giữa Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh A, phòng G1 với ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B là tự nguyện; nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên kể từ ngày ký.

Đến hạn theo thoả thuận, Ngân hàng có nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông G, bà B chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ của hợp đồng, không thực hiện đúng cam kết thoả thuận, không thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến ngày 09/12/2025 ông G, bà B còn nợ của Ngân hàng tổng cộng số tiền 578.256.675 (trong đó nợ gốc 225.000.000 đồng, nợ lãi là 353.256.675 đồng). Do đó, HĐXX xét thấy ông G, bà B có giao dịch với Ngân hàng để sử dụng số tiền vốn vay do Ngân hàng cấp vào ngày 08/06/2016, ông G, bà B là khách hàng ký tên trong hợp đồng và không thực hiện nghĩa vụ góp trả lại vốn, lãi cho Ngân hàng đã vi phạm nghĩa vụ của khách hàng; mặt khác bà B có lời khai thừa nhận còn nợ, xin Ngân hàng trả số tiền vốn và xin phần lãi suất, thỏa thuận với chị L để bán phần đất lấy tiền trả cho Ngân hàng nhưng đại diện cho Ngân hàng không đồng ý nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc ông G, bà B trả số tiền vốn vay và lãi phát sinh còn lại cho Ngân hàng TMCP S theo hợp đồng đã ký kết.

[2.2] Việc tài sản thế chấp: Bà B và ông G đã đồng ý thế chấp cho S1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 0160/2016/HĐTC-CN/SHB.130701 ngày 10/06/2016 đã được công chứng tại Văn phòng C – 299 N, khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 10/06/2016, đồng thời đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 10/06/2016 và qua kết quả Ủy thác của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tiến hành biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản đang thế chấp cho Ngân hàng thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đề ngày 22 tháng 4 năm 2025 do Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tiến hành có nội dung ghi nhận như: tại thời điểm thẩm định thửa đất nêu trên đã cố cho bà Phạm Thị Huỳnh L hiện đang canh tác trồng lúa, việc cố đất chỉ giao dịch bằng văn bản viết tay, chưa đúng theo quy định về đất đai, bà L có yêu cầu bà B và ông G trả tiền tiền cố đất thì bà đồng ý trả lại đất cố. Từ những phân tích nêu trên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án các khoản tiền vay nợ của bà B và ông G khi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, cần tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 0160/2016/HĐTC-CN/SHB.130701 ngày 10/06/2016 để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng.

Đối với hợp đồng cố đất giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Huỳnh L với ông G, bà B: Căn cứ hợp đồng cố quyền sử dụng đất đề ngày 11/4/2014 giữa bà L với ông G, bà B là vi phạm điều cấm của pháp luật nên tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về xử lý hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là buộc bà L phải trả lại phần diện tích đất nông nghiệp đã nhận cố từ ông G, bà B gồm: diện tích 12.300m² (diện tích thực tế 10.309,3m²) thuộc tờ bản đồ số 7, thửa số 760 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 00581/QSDĐ/A2 được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015 do ông Nguyễn Thanh G đứng tên thể hiện theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh sông tiền – Công ty TNHH H1 vẽ ngày 24/5/2025 nên HĐXX đủ căn cứ xem xét chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà L với ông G, bà B được lập theo tờ thoả thuận cố đất đề ngày 11/4/2014 là vô hiệu và buộc ông G, bà B cùng trả lại số tiền cố đất là 200.000.000 đồng cho bà L.

Từ những phân tích trên do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phía bà L không có giữ, chỉ nhận phần diện tích đất cố canh tác cho đến nay nên HĐXX buộc bà L trả lại toàn bộ diện tích đất cố nêu trên cho ông G, bà B theo sơ đồ hiện trạng của Chi nhánh sông tiền – Công ty TNHH H1 vẽ ngày 24/5/2025.

[3] Chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 500.000 đồng (bút lục 118); chi phí đo đạc là 17.897.681 đồng(bút lục 116), tổng cộng cho phí tố tụng là 18.397.681 đồng do Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm ứng trước và yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc bị đơn ông G, bà B phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền này theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà L không phải chịu án phí và bà L phải chịu án phí về nghĩa vụ trả lại phần đất. Vì vậy ông G, bà B phải chịu án phí đối với số tiền vay, về hợp đồng vô hiệu, nghĩa vụ trả lại số tiền cố đất theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tóa án.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 123, 280, 317, 318, 357, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 99, 100, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B.
    1. Buộc ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B cùng có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng số tiền vốn vay và lãi là 578.256.675 đồng (trong đó nợ gốc 225.000.000 đồng, nợ lãi là 353.256.675 đồng), tính đến ngày 09/12/2025.
    2. Kể từ ngày tiếp theo (ngày 10/12/2025) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã ký thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 0159/2016/HĐTDNH- CN/SHB.130701 ký ngày 08/06/2016 giữa Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh A, phòng G1 với ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B.
  2. Về xử lý tài sản thế chấp:
    1. Trong trường hợp ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ không đầy đủ các khoản nợ như trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 0160/2016/HĐTC-CN/SHB.130701 ngày 10/06/2016 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh A, phòng G1 với ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 00581/QSDĐ/A2 được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015 do ông Nguyễn Thanh G đứng tên để đảm bảo thi hành án các khoản nợ cho Ngân hàng.
    2. Trong trường hợp ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B tự nguyện thực hiện nghĩa vụ xong bao gồm cả khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh A, phòng G1 phải giải chấp và trả cho ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B giấy tờ gốc gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 00581/QSDĐ/A2 được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015 do ông Nguyễn Thanh G đứng tên.
  3. Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Huỳnh L đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B.
    1. Buộc ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị Huỳnh L số tiền cố đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
    2. Buộc bà Phạm Thị Huỳnh L trả lại cho ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B diện tích 12.300m² (diện tích thực tế 10.309,3m²) thuộc tờ bản đồ số 7, thửa số 760 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: 00581/QSDĐ/A2 được UBND huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 06/10/1994 và được Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện T ký đính chính sai sót ngày 30/01/2015 do ông Nguyễn Thanh G đứng tên thể hiện tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh sông tiền – Công ty TNHH H1 vẽ ngày 24/5/2025.

    (kèm theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh sông tiền – Công ty TNHH H1 vẽ ngày 24/5/2025 là một bộ phận không tách rời của bản án).

  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, chi phí đo đạc là 18.397.681 đồng (mười tám triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng).
  5. Án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Nguyễn Thanh G và bà Võ Thị Bé B phải chịu án phí tổng cộng án phí là 37.430.000 đồng.
    2. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 12.735.000 đồng cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0011692, ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
    3. Bà Phạm Thị Huỳnh L phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 5.000.000 đồng, còn lại số tiền tạm ứng án phí là 4.700.000 đồng hoàn trả lại cho bà Phạm Thị Huỳnh L theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0002449, ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND khu vực 12;
  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -THADS tỉnh An Giang;
  • -Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2025/DS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp các hợp đồng tín dụng, thế chấp và cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 201/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp các hợp đồng tín dụng, thế chấp và cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger