Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2025/DS-PT.

Ngày: 24-3-2025

V/v: “Tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. 1. Ông Đinh Tiền Phương
  2. 2. Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 446/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024 và Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 04/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Văn H, sinh năm 1960
  2. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn:
    1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1957
    2. Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Hòa T1, sinh năm: 1984

      Địa chỉ: Ấp F, xã N, huyện B, tỉnh Long An. (theo Văn bản ủy quyền ngày 04/11/2024).

    3. Ông Văn Tuấn D, sinh năm 1978
    4. Ông Văn Hồng N, sinh năm 1980
    5. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    6. Bà Văn Hồng P, sinh năm 1983
    7. Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Long An.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Văn Thị H1, sinh năm 1970
    2. Địa chỉ: số C, Khu phố F, Phường A, quận B, TP ..

    3. Bà Văn Thị Thúy L, sinh năm 1950
    4. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền cho bà L: Bà Văn Thị Mỹ H2, sinh năm: 1983. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An (theo giấy ủy quyền ngày 06/11/2021).

    5. Bà Văn Thị D1, sinh năm 1965.
    6. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

  5. Người kháng cáo: Bà Trần Thị T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Văn H trình bày tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án: Cụ Văn N1 chết năm 2016, cụ Huỳnh Thị L1 chết năm 2008 là vợ chồng. Cụ N1 và cụ L1 có 5 người con chung tên: Văn Hoà, Văn Thị Thúy L, Văn Thị D1, Văn Thị H1, Văn B. Ông Văn B chết năm 2006 có vợ là bà Trần Thị T và 03 người con là Văn Tuấn D, Văn Hồng N, Văn Hồng P. Cha mẹ cụ N1 và cụ L1 đều chết trước cụ N1 và cụ L1. Cụ N1 và cụ L1 không có con nuôi, con ngoài giá thú.

Cụ L1, cụ N1 chết không để lại di chúc, có để lại di sản thừa kế là: Thửa đất số 371 và 372, cùng tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Thửa đất số 372, tờ bản đồ số 19 đã được phân chia thừa kế theo bản án số 22/2021/DSST ngày 24/5/2021. Đối với thửa đất số 371, tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án trên, các đương sự không tranh chấp và chưa tiến hành phân chia di sản thừa kế.

Thửa đất số 371 do cụ N1 và cụ L1 quản lý sử dụng từ trước năm 1975 đến khi mất. Vào năm 1978, ông Văn B được ông Văn N1 cho một phần đất thuộc thửa 371 để cất nhà ở. Khi ông B cất nhà, cụ N1 chỉ cho nội cho để ở chứ không phải cho vì phần đất này rộng và có giá trị hơn so với thửa 372. Ông B và gia đình quản lý phần nhà, cụ N1 và cụ L1 quản lý phần đất chưa xây nhà.

Tại đơn khởi kiện, ông H yêu cầu chia thừa kế là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19 mục đích sử dụng: ONT + CLN, tọa lạc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An do cha của ông Văn N1 để lại, yêu cầu được nhận phần thừa kế bằng hiện vật.

Quá trình giải quyết vụ án, ông H thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chia thừa kế là một phần quyền sử dụng đất tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19 mục đích sử dụng: ONT + CLN, tọa lạc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vị trí khu A bản phụ lục ngày 19/8/2024 của Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 36-2021 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 29/01/2021 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 02/02/2021)

Đối với toàn bộ diện tích căn nhà và diện tích đất tiếp giáp giữa căn nhà với đường bê tông 2m (khu A), ông Hòa đồng Ý với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của bà T.

Bị đơn bà Trần Thị T trình bày tại đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án: Bà T là vợ ông Văn B. Bà T thống nhất với lời trình bày của ông H về những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N1 và cụ L1, ông B.

Cụ N1 và cụ L1 chết không để lại di chúc, để lại di sản thừa kế là thửa đất số 372, cùng tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An nhưng đã được phân chia thừa kế theo Bản án số 22/2021/DSST ngày 24/5/2021 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức. Tại thời điểm Toà án giải quyết phân chia di sản thừa kế trong vụ án trên, các đồng thừa kế là ông Văn H, bà Văn Thị Thúy L, bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 đồng ý xác định toàn bộ thửa đất số 371 là của ông Văn B nên bà T thống nhất không nhận di sản thừa kế tại thửa 372.

Thửa đất số 371 do cụ N1 và cụ L1 quản lý sử dụng trước năm 1975. Vào năm 1978, vợ chồng bà được ông Văn N1 cho toàn bộ thửa 371 để cất nhà ở, sinh sống và canh tác. Từ đó đến nay, gia đình bà ở ổn định, canh tác trên đất hơn 40 năm mà không ai tranh chấp gì.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, bà T không đồng ý và yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận cho bà quyền sử dụng đất tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Các bị đơn ông Văn Tuấn D, ông Văn Hồng N, bà Văn Hồng P thống nhất trình bày: Các ông, bà là con ruột của ông Văn B và bà Trần Thị T. Các ông, bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà T trong vụ án.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, các ông, bà không đồng ý vì đây là phần đất ông B và bà T được ông bà nội cho khi còn sống, không còn được xác định là di sản thừa kế như phía nguyên đơn trình bày. Các ông, bà đồng ý với yêu cầu của bà T, yêu công nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà T, các ông bà yêu cầu xem xét chia di sản thừa kế cho các ông bà theo quy định của pháp luật, để mỗi người được nhận 01 suất thừa kế do ông B để lại tại một phần thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Trường hợp được nhận di sản thừa kế, các ông bà đồng ý tặng cho toàn bộ cho bà T.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bà Văn Thị H1, Văn Thị Thúy L, Văn Thị D1 thống nhất trình bày: Các bà thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông Văn H. Trong vụ án tranh chấp thừa kế tại Toà án nhân dân huyện Bến Lức (bản án số 22/2021/DSST ngày 24/5/2021), khi tranh chấp đối với thửa 372, sở dĩ phía vợ và các con ông B từ chối nhận di sản đối với phần thửa 372 là vì họ muốn nhận phần hơn tại thửa 371. Tại thời điểm đó, các bà không thoả thuận việc

phân chia thửa đất 371 mà chỉ thống nhất để bà T và các con bà T được nhận phần đất đã xây nhà thuộc một phần thửa 371 (là diện tích căn nhà hiện hữu trên đất). Còn phần còn lại vẫn phải được xác định là di sản thừa kế. Do đó, đối với phần diện tích đất mà ông Văn B và gia đình đã cất nhà ở, các bà thống nhất giao lại cho bà T, anh N, anh D, bà P. Các bà yêu cầu độc lập yêu cầu chia thừa kế là một phần quyền sử dụng đất tại thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19 mục đích sử dụng: ONT + CLN, tọa lạc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vị trí tại khu A trích đo bản đồ địa chính số 36-2021 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 29/01/2021 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 02/02/2021), chia thành 5 phần, cho các bà mỗi người được nhận 1/5 di sản. Trường hợp được nhận di sản, các bà cho lại hết ông Văn H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã tuyên:

Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, 200, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 688, 611, 612, 613, 650, 651, 652 và 660 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ các Điều 166, 170 Luật Đất đai.

Căn cứ các Điều 12, 14, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị Thúy L, bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 đối với bị đơn bà Trần Thị T, anh Văn Tuấn D, anh Văn Hồng N, chị Văn Hồng P về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” với Trần Thị T. Văn Tuấn D, Văn Hồng N, Văn Hồng P.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị T đối với nguyên đơn ông Văn H về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
    1. Bà Trần Thị T được quyền tiếp tục quản lý sử dụng vị trí đất tại Khu A, diện tích đo đạc thực tế 452.7 m², loại đất ONT, thuộc một phần thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và tài sản gắn liền với phần đất nêu trên là nhà có ký hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 158,4 m², mái che có ký hiệu (2) diện tích đo đạc thực tế 89.5 m², nhà bếp có ký hiệu (3) diện tích đo đạc thực tế 22.7 m², nhà vệ sinh có ký hiệu (4) diện tích đo đạc thực tế 3.4 m², chuồng gà ký hiệu (5) diện tích đo đạc thực tế 12.1 m² cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
    2. Chia cho ông Văn H được quyền sử dụng đất và cùng toàn bộ tài sản trên đất tại khu A diện tích đo đạc thực tế 582.3m², loại đất LNK, thuộc một phần thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và tài sản gắn liền với phần đất nêu trên là mộ ký hiệu (6) diện tích đo đạc thực tế 4.5 m² cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
    3. Buộc ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 451.476.600đồng.
    4. Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 36-2021 do Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 02/02/2021 và bản phụ lục ngày 19/8/2024, được đính kèm bản án sơ thẩm).
    5. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của mình theo quy định của Luật đất đai.
  3. Chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá): Bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông Văn H số tiền 8.333.333đ. Ông Văn H phải chịu số tiền 11.666.667đồng.
  4. Về án phí sơ thẩm: Ông Văn H, bà Trần Thị T được miễn án phí. Bà Văn Thị Thúy L, bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1, anh Văn Tuấn D, anh Văn Hồng N, chị Văn Hồng P không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 mỗi người 3.750.000đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0007555, 0007556 cùng ngày 30/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, bà Trần Thị T có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn H.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm ngày 25/3/2025 các đương sự đã thoả thuận được với nhau toàn bộ việc giải quyết vụ án, cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 451.476.600đồng. Nay hai bên thoả thuận là ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 800.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của bà Trần Thị T được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Các đương sự vắng mặt: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị H1 và bà Văn Thị D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[1.3] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Trần Thị T, thấy rằng:

[2.1] Về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất xác định cụ Văn N1 chết năm 2016, cụ Huỳnh Thị L1 chết năm 2008 những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là 5 người con chung: Văn Hòa, Văn Thị Thúy L, Văn Thị D1, Văn Thị H1, Văn B. Ông Văn B chết năm 2006 có 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bà Trần Thị T (vợ) và 03 người con là Văn Tuấn D, Văn Hồng N, Văn Hồng P. Ngoài ra, cụ N2 và cụ L1 không có con chung, con riêng khác.

[2.2] Tài sản đang tranh chấp là thửa đất số 371 diện tích đo thực tế là 1038m², loại đất ONT và CLN thuộc tờ bản đồ số 19, (khu A và khu A)theo mảnh trích đo địa chính thể hiện thửa đất trên có 02 loại đất là ONT và LNK, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại sổ mục kê đứng tên cụ Văn N1. Căn cứ Công văn số 378/UBND-ĐC ngày 28/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, xác định thửa đất này có nguồn gốc của cụ Văn N1 và cụ Huỳnh Thị L1. Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định thửa đất là di sản do cụ N1 và cụ L1 để lại nên yêu cầu chia di sản thừa kế. Bà T yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất do đã được cụ N1 và cụ L1 đã tặng cho.

[2.3] Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án cụ thể tại Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 451.476.600 đồng, nhưng nay các đương sự đã thống nhất ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 800.000.000 đồng; chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mỗi bên phải chịu ½. Các phần còn lại của Bản án sơ thẩm các đương sự thống nhất giữ nguyên theo bản án sơ thẩm. Xét thấy, sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 20.000.000đồng. Buộc mỗi bên phải chịu 10.000.000đồng, số tiền này ông Văn H đã nộp xong, nên bà Trần Thị T, ông Văn Tuấn D, ông Văn Hồng N, bà Văn Hồng P phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại cho ông H 10.000.000đồng. Chi phí tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm là 3.000.000đồng phía bị đơn tự nguyện chịu đã nộp xong.

[5] Về án phí sơ thẩm: Ông Văn H và bà Trần Thị T được miễn án phí. Bà Văn Thị H1, Văn Thị Thúy L, Văn Thị D1 không phải chịu án phí, hoàn lại cho bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 mỗi người 3.750.000đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0007555, 0007556 cùng ngày 30/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông Văn Tuấn D, ông Văn Hồng N, bà Văn Hồng P phải liên đới chịu 28.000.000đồng tiền án phí.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T được miễn án phí.

[7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 91/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147, Điều 148, các Điều 157, 158, 165, 166, 200, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 688, 611, 612, 613, 650, 651, 652 và 660 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ các Điều 166, 170 Luật Đất đai;

Căn cứ các Điều 12, 14, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Văn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị Thúy L, bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 đối với bị đơn bà Trần Thị T, anh Văn Tuấn D, anh Văn Hồng N, chị Văn Hồng P về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” với Trần Thị T. Văn Tuấn D, Văn Hồng N, Văn Hồng P.
    1. Chia cho ông Văn H được quyền sử dụng đất và cùng toàn bộ tài sản trên đất tại khu A diện tích đo đạc thực tế 582.3m², loại đất LNK, thuộc một phần thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và tài sản gắn liền với phần đất nêu trên là mộ ký hiệu (6) diện tích đo đạc thực tế 4.5 m² cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
    2. Buộc ông Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T giá trị kỷ phần thừa kế là 800.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị T đối với nguyên đơn ông Văn H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
    1. Bà Trần Thị T được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng vị trí đất tại khu A, diện tích đo đạc thực tế 452.7 m², loại đất ONT, thuộc một phần thửa đất số 371, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An và tài sản gắn liền với phần đất nêu trên là nhà có ký hiệu (1) diện tích đo đạc thực tế là 158,4 m², mái che có ký hiệu (2) diện tích đo đạc thực tế 89.5 m², nhà bếp có ký hiệu (3) diện tích đo đạc thực tế 22.7 m², nhà vệ sinh có ký hiệu (4) diện tích đo đạc thực tế 3.4 m², chuồng gà ký hiệu (5) diện tích đo đạc thực tế 12.1 m² cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
    2. Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 36-2021 do Công ty TNHH Đ đo vẽ ngày 29/01/2021. được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 02/02/2021.
    3. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp phù hợp với Quyết định của bản án, đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của mình được chia, theo quy định của Luật đất đai.
  3. Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 20.000.000đồng. Buộc mỗi bên phải chịu 10.000.000đồng, số tiền này ông Văn H đã nộp xong, nên bà Trần Thị T, ông Văn Tuấn D, ông Văn Hồng N, bà Văn Hồng P phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại cho ông H 10.000.000đồng. Chi phí tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm là 3.000.000đồng phía bị đơn tự nguyện chịu đã nộp xong.
  4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  5. Về án phí sơ thẩm: ông Văn H và bà Trần Thị T được miễn án phí. Bà Văn Thị H1, Văn Thị Thúy L, Bà Văn Thị D1 không phải chịu án phí, hoàn lại cho bà Văn Thị D1, bà Văn Thị H1 mỗi người 3.750.000đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0007555, 0007556 cùng ngày 30/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông Văn Tuấn D, ông Văn Hồng N, ông Văn Hồng P phải liên đới chịu 28.000.000đồng tiền án phí.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T được miễn án phí.
  7. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Bến Lức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, lưu án văn./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 201/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận thỏa thuận giữa các bên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger