Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 201/2023/HSST

Ngày: 16 - 11 - 2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí
  • Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Vòng Cảnh Mỹ Dung
    2. Ông Nguyễn Minh Trí
  • Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phương Huỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2023/QĐXXST- HS ngày 01/11/2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đình Thanh T, sinh năm: 1998 tại Gia Lai; nơi thường trú: Tổ dân phố 1, thị trấn S, huyện S, tỉnh G; chỗ ở: Nhà trọ Quảng, đường Bế Văn Đàn, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ điện công nghiệp; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Phạm Thị V; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Đình Anh V sinh năm: 2001 tại Gia Lai; nơi thường trú: Tổ dân phố 1, thị trấn S, huyện C, tỉnh G; chỗ ở: Nhà trọ Quảng, đường Bế Văn Đàn, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Phạm Thị V; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần đầu tư và thiết kế xây dựng H; trụ sở: Số 31 đường Đ2, Khu phức hợp thương mại dịch vụ và nhà ở số 16/9, Đường B, Phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm: 1960; thường trú tại: Số 153/1, khu phố Đông Tân, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền của bị hại (văn bản ủy quyền ngày 08/5/2023), có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình Thanh T và em trai là Nguyễn Đình Anh V là công nhân lắp đặt hệ thống điện tại Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda, trụ sở tại khu phố 3, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương do Công ty Cổ phần đầu tư và thiết kế xây dựng H làm chủ đầu tư.

Do công việc không ổn định và không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V bàn bạc việc cắt trộm dây cáp điện tại công trình xây dựng khu dân cư Gamuda.

Vào khoảng 22 giờ ngày 06/5/2023, T chuẩn bị 01 kìm cộng lực, 01 cây đoản bằng kim loại và 06 cuộn băng keo đen bỏ vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 81P1-355.58 của V rồi cả hai đi từ Khu nhà trọ Quảng, địa chỉ tại phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda. Khi đến nơi, V dừng xe và đứng bên ngoài để cảnh giới, còn T thì chui qua hàng rào tole công trình để đột nhập vào trong rồi đi đến kho chứa các thiết bị điện của công trình được đặt trong 01 thùng container. Tại đây, T dùng cây đoản mở khóa rồi mở cửa thùng container đi vào trong thùng container và đến vị trí 01 cuộn dây cáp điện loại CV/XLPE/PVC 1x50mm2-0.6/1KV, màu đen (dạng hình tròn, đường kính dây cáp 50mm, có lõi bằng kim loại màu vàng đồng được quấn vào 01 trục gỗ thành cuộn lớn) rồi kéo đoạn dây cáp điện này ra khu vực phía trước cửa thùng container và dùng kìm cộng lực cắt thành nhiều đoạn, mỗi đoạn dài khoảng từ 2,5 mét đến 03 mét rồi dùng băng keo đen quấn lại thành 10 cuộn (bó), mỗi cuộn (bó) có khoảng từ 10 đoạn đến 12 đoạn. Sau đó, T đem những đoạn dây cáp điện này ra bên ngoài rồi cùng với V điều khiển xe mô tô biển số 81P1-355.58 chở đem đi tiêu thụ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 07/5/2023, trong khi lực lượng Công an phường H tiến hành tuần tra trên đường Đồng Khởi, đoạn qua khu phố 3, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy V điều khiển xe mô tô biển số 81P1-355.58 chở T cùng với những đoạn dây cáp điện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu V dừng xe để kiểm tra thì T và V đã khai nhận những đoạn dây cáp điện trên là do T và V vừa cắt trộm tại Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda nên lực lượng tuần tra đưa T và V về trụ sở Công an phường H để làm việc, đồng thời thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M biết để thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V về hành vi Trộm cắp tài sản.

Vật chứng thu giữ: 10 cuộn (bó) dây cáp điện; 01 kìm cộng lực và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 81P1-355.58 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.

Đến khoảng 07 giờ ngày 07/5/2023, ông Nguyễn Như T (là Chỉ huy trưởng Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda) đến Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda để kiểm tra thì phát hiện bị mất trộm dây cáp điện trong kho thiết bị (thùng container) nên đã báo cho ông Phạm Ngọc T (là Quản lý Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thiết kế Xây dựng H) biết. Sau đó, ông T đã đến Công an phường H để trình báo sự việc. Qua kiểm tra thực tế, số dây cáp điện mà Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V khai nhận đã cắt trộm tại Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda và bị Công an phường H phát hiện, thu giữ có tổng chiều dài là 263,71 mét.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 263,71 mét dây cáp điện loại CV/XLPE/PVC 1 x 50mm2-0.6/1kv có tổng trị giá là 29.799.230 đồng.

Bản Cáo trạng số 200/CT- VKSTDM ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng và đề nghị:

a) Về trách nhiệm Hình sự

  • - Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V cùng mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
  • - Hình phạt bổ sung: Không.
  • b) Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 81P1-355.58.
    • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 (một) kìm cộng lực.
  • c) Về trách nhiệm dân sự: Không.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với các bị cáo. Các bị cáo không tranh luận và không tự bào chữa. Lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin giảm nhẹ hình phạt, hứa cải sửa bản thân và không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 06/5/2023, tại Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda, bị cáo Nguyễn Đình Thanh T thực hiện hành vi lén lút cắt 263,71 mét dây cáp điện loại CV/XLPE/PVC 1x50mm2-0.6/1kv có tổng trị giá là 29.799.230₫ của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thiết kế Xây dựng H, còn bị cáo Nguyễn Đình Anh V là người cảnh giới cho bị cáo T cắt trộm dây cáp điện và điều khiển xe mô tô chở các đoạn dây cáp điện trên đem đi tiêu thụ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trước khi phạm tội các bị cáo có sự bàn bạc thống nhất ý chí với nhau từ trước nên vụ án mang tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Tuấn là người trực tiếp lấy tài sản. Bị cáo Vũ là người cảnh giới giúp sức cho Tuấn và là người chở tài sản đi tiêu thụ nên vai trò đồng phạm của các bị cáo ngang nhau. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo T và V thành khẩn khai báo, ăn năn hối; tài sản đã được thu hồi và giao trả cho bị hại; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là phù hợp.

Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo cho các bị cáo T và V được hưởng án treo.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản do các bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra, xem xét giải quyết.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 81P1-355.58 và 01 kìm cộng lực, quá trình xác minh và điều tra xác định xe mô tô do Nguyễn Đình Anh V đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký. Do V và T đã sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 kìm cộng lực qua điều tra xác định của bị cáo T. Bị cáo Tuấn đã dùng kìm làm công cụ phạm tội hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra, Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda khai đã nhiều lần bị mất trộm dây cáp điện nên nghi ngờ bị cáo T và bị cáo V là những đối tượng có liên quan và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xem xét, giải quyết. Nhưng do quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của Công ty là ông T chỉ cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một thông tin ước tính về trị giá tài sản (dây cáp điện) bị mất trộm của những lần trước đó mà không có tài liệu, chứng cứ khác thể hiện có sự việc bị mất trộm tài sản (như thời điểm bị mất trộm, việc trình báo với cơ quan công an,...). Ngoài ra, T và V đều khai nhận không liên quan đến các vụ việc mất trộm dây cáp điện tại Công trình xây dựng Khu Dân cư Gamuda trước đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một không truy cứu là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Anh V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023).

    - Giao các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện S, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Tuấn và Vũ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây kìm cộng lực bằng kim loại, dài khoảng 43 cm, cán bằng sắt bọc nhựa, màu đen bên ngoài dài khoảng 23 cm, phần lưỡi dài khoảng 20 cm.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 81P1-355.58, số khung: MH1KF4116LK891596; số máy: KF41E1893988 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 005.24 ngày 04/10/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

  4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Công an cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND thị trấn C, huyện S, tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huỳnh Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 201/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình Thanh T và Nguyễn Đình Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger