Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 201/2024/HS-ST

Ngày 18 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Diệu
  2. Bà Nguyễn Thị Bạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đăng H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 07/02/2003; Tại: Tỉnh Bình Phước. Nơi thường trú: Tổ D, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Con ông: Lê Đăng C, sinh năm: 1974; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1976. Trú tại: Tổ D, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không.

Tiền án: 02 tiền án

Ngày 30/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 tháng tù giam, về tội Trộm cắp tài sản (bản án số 56/2022/HSST). Bị cáo được trả tự do tại phiên tòa về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xóa án tích.

Ngày 10/01/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản (bản án số 02/2023/HSST). Ngày 29/02/2024, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xóa án tích.

Bị cáo Lê Đăng H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, từ ngày 12/3/2024 cho đến nay. (có mặt).

- Bị hại:

  1. Ông Lê Thế T (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Hẻm F M, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

  3. Bà Nguyễn Thị T1 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 8 Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lô Thị L (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đăng H, sinh năm: 2003, thường trú tại: Tổ D, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, là người đã có 02 tiền án, về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích.

Ngày 10/3/2024, tại địa bàn phường E, thành phố B, Lê Đăng H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 10/3/2024, H đi bộ từ khu vực đường L đến đường Y, phường E, thành phố B để tìm tài sản trộm cắp. Khi H đi đến hẻm H, Y, phường E, thành phố B, thì phát hiện 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, màu đỏ của chị Nguyễn Thị T1, trú tại: 8 Y, phường E, thành phố B đang dựng, không có người trông coi nên H đi đến, lén lút trộm cắp xe đạp của chị T1, rồi tẩu thoát. Sau khi phát hiện

bị mất tài sản, chị T1 đã làm đơn trình báo gửi Công an phường E, thành phố B để xử lý theo quy đinh.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, màu đỏ, trị giá 500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2024, H điều khiển xe đạp trộm cắp của chị T1 đến khu vực trước nhà của anh Lê Thế T, ở địa chỉ: Hẻm F M, phường E, thành phố B, thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, màu đỏ, biển số 47P1 – 050.50 của anh T đang dựng trước cửa nhà, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi. Lúc này, H bỏ lại xe đạp tại bãi đất trống đối diện nhà anh T, rồi đi đến lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 47P1 – 050.50 của anh T, nổ máy xe tẩu thoát. Trong quá trình điều khiển xe mô tô biển số 47P1 – 050.50 của anh T đi tìm nơi tiêu thụ, thì H bị té xe (chưa rõ địa điểm) dẫn đến bị thương tích nên H đến phòng khám (chưa rõ địa chỉ) sơ cứu vết thương. Đến ngày 12/3/2024, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để tự thú về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 47P1 – 050.50 để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, màu đỏ, biển số 47P1 – 050.50, trị giá 4.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 179/CT-VKS - HS ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố bị cáo Lê Đăng H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 179/CT-VKS- HS ngày 07/6/2024 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng g khoản 2 Điều 173; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, màu đỏ cho chị Nguyễn Thị T1 và 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, màu đỏ, biển số 47P1 – 050.50 cho anh Lê Thế T nhận quản lý sử dụng, là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Đăng H thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Vào khoảng 18 giờ ngày 10/3/2024 tại địa chỉ: Hẻm H Y, phường E, thành phố B, bị cáo Lê Đăng H đã trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị T1 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, trị giá 500.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, tại địa chỉ: Hẻm F M, phường E, thành phố B, bị cáo Lê Đăng H tiếp tục trộm cắp tài sản của anh Lê Thế T 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, biển số 47P1 – 050.50, trị giá 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản, trộm cắp là 4.500.000 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Lê Đăng H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật với bản chất lười biếng lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài, Lê Đăng H đã lén lút trộm cắp tài sản của chị chị Nguyễn Thị T1 và anh Lê Thế T giá trị tài sản 4.500.000 đồng do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo phạm tội tái phạm chưa được xoá án tích là tái phạm nguy hiểm do vậy áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm.”

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn đã tịch thu trả lại cho người bị hại, người bị hại làm đơn xin bãi nãi cho bị cáo, bị cáo ra đầu thú nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp do đó cần chấp nhận.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, màu đỏ cho chị Nguyễn Thị T1 và 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, màu đỏ, biển số 47P1 – 050.50 cho anh Lê Thế T nhận quản lý sử dụng, là phù hợp.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/3/2024

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan điều tra giao trả 01 xe đạp thể thao hiệu Gbolai, màu đỏ cho chị Nguyễn Thị T1 và 01 xe mô tô hiệu SYM Atila, màu đỏ, biển số 47P1 - 050.50 cho anh Lê Thế T nhận quản lý sử dụng.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Đăng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT;
  • - Công an TP.BMT;
  • - Chi cục THADS TP . BMT;
  • - Bị cáo; đương sự liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 201/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger