Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2024/DS-PT

Ngày: 17-5-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải.

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Bình;

Bà Phan Thị Hồng Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 04/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 213/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 125/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử số 52/2024/TB-TA ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1 Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1942; địa chỉ: 1, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • - Bà Đặng Mỹ L, sinh năm 1998; Địa chỉ: ấp C xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
  • - Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)

Cùng địa chỉ liên hệ: Cạnh C N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Lê Đình P, sinh năm 1956; Địa chỉ: A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Trần Thanh P1, sinh năm 1984; địa chỉ: 7, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

3.2 Ông Thân Văn H1, sinh năm 1983; địa chỉ: B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

3.3 Bà Đặng Thị Hoàng G, sinh năm 1986; địa chỉ: Số H, X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông H1, bà G: Ông Diệp Bửu L1, sinh năm 1995; địa chỉ: B, hẻm D, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

3.4 Ông Lê Đình P2; địa chỉ: A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

3.5 Văn phòng Công chứng Võ Thị Hồng Y (Nay là Văn phòng C1); địa chỉ: A, N, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

3.6 Văn phòng C1; địa chỉ: Số A, L, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện hợp pháp của Văn phòng C1 là ông Ngô Công M, sinh năm 1952; địa chỉ: C N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H trình bày: Do có nhu cầu tách thửa chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất CLN, tọa lạc tại Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS19407, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 14/4/2021, bà Lê Thị Hồng H đứng tên. Bà H nhờ em ruột là Lê Đình P làm thủ tục tách thửa, nhưng ông P đã lừa dối bà nói làm hợp đồng tặng toàn bộ quyền sử dụng đất trước, sau đó sẽ tách thửa đất cho bà, nên bà đã đồng ý làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được Văn phòng C1 công chứng ngày 15/4/2021. Sau khi làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên thì ông P đã chuyển nhượng cho ông Thân Văn H1 và ông H1 cùng vợ là bà Đặng Thị Hoàng G tiếp tục chuyển nhượng cho ông Trần Thanh P1.

Nay bà Lê Thị Hồng H yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và ông P, lý do bà H tặng cho ông P nhằm mục đích tách thửa, chứ không phải tặng cho thật; yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P với ông Thân Văn H1 và giữa ông H1, bà G với ông Trần Thanh P1; Yêu cầu Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ thu hồi,

chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P, ông H1, ông P1 để cấp lại cho bà H.

Bị đơn ông Lê Đình P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình P2: Vắng mặt suốt trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nên không thu thập được lời khai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thân Văn H1, Đặng Thị Hoàng G trình bày: Vào ngày 20/4/2022, ông Thân Văn H1 có nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên từ ông Lê Đình P với giá là 350.000.000 đồng (giá ghi trong hợp đồng), còn giá thực tế là 3.600.000.000 đồng. Sau khi làm hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, ông H1 đã đi chỉnh lý sang tên ngày 28/4/2022. Tiếp tục do không có nhu cầu sử dụng tiếp, ông H1 và vợ là bà G đã làm hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Trần Thanh P1 vào ngày 04/5/2022, có công chứng với giá là 370.000.000 đồng (giá ghi trong hợp đồng), còn giá chuyển nhượng thật là 3.780.000.000 đồng, sau đó ông P1 đã chỉnh lý sang tên ngày 11/5/2022 và đã xin cấp đổi giấy mới.

Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông H1, bà G đề nghị bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H.

Đề nghị công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H với ông P; công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P với ông H1 và giữa ông H1, bà G với ông Trần Thanh P1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 trình bày:

Vào ngày 04/5/2022, ông Trần Thanh P1 có nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên từ ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Thanh G1 với giá là 370.000.000 đồng (giá ghi trong hợp đồng), còn giá thực tế là 3.780.000.000 đồng. Tại thời điểm chuyển nhượng trên đất có khung hàng rào bê tông bao quanh. Sau khi làm hợp đồng chuyển nhượng đất và công trình trên đất, ông P1 đã đi chỉnh lý sang tên ngày 11/5/2022, sau đó cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào ngày 15/3/2023.

Nay qua yêu cầu của nguyên đơn thì ông P1 không đồng ý với tất cả các yêu cầu của nguyên đơn và ông P1 có yêu cầu độc lập là yêu cầu bà H tháo dỡ tài sản trên đất một phần nhà bếp của bà H để giao trả cho ông P1 toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 (Nay là Văn phòng C1) trình bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 648, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 15/4/2021 giữa bên tặng cho bà Lê Thị Hồng H với bên nhận tặng cho ông Lê Đình P đã được Công chứng viên công chứng đúng quy định của pháp luật; Đối với yêu cầu của các bên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày: Vào ngày 20/4/2022 Văn phòng C1 có tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Lê Đình P và ông Thân Văn H1 yêu cầu công chứng liên quan thửa đất 52, tờ bản đồ số 74; Tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN: CS19407 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 14/4/2021, chỉnh lý ông P đứng tên ngày 05/5/2021; Công chứng viên Ngô Công Q Thái kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 20/4/2022 đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật;

Vào ngày 04/5/2022 cũng liên quan đến tài sản nêu trên đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N chỉnh lý sang tên cho ông Thân Văn H1 thì vợ, chồng ông Thân Văn H1 và bà Đặng Thị Hoàng G cùng ông Trần Thanh P1 cùng tiếp tục yêu cầu Văn phòng C1 thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản này. Công chứng viên đã kiểm tra đối chiếu các giấy tờ do các bên cung cấp. Văn phòng Công chứng Ngô Công Quốc T1 đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục công chứng theo quy định của pháp luật và chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/5/2022.

Nay nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H đề nghị tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đình P cùng ông Thân Văn H1 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G cùng ông Trần Thanh P1 thì Văn phòng C1 có ý kiến không đồng ý với đề nghị nêu trên của nguyên đơn. Ngoài ra xin xét xử vắng mặt.

Tại bản án sơ thẩm số 273/2023/TLST-DS, ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử như sau:

1/. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H.

- Về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất sau đây gồm:

  • + Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 4 năm 2021 giữa bà Lê Thị Hồng H với ông Lê Đình P, được Văn phòng C1, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 15/4/2021;
  • + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa ông Lê Đình P với ông Thân Văn H1, được Văn phòng C1, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 20/4/2022;
  • + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04 tháng 5 năm 2022 giữa ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G với ông Trần Thanh P1, được Văn phòng C1, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 04/5/2022;

Quyền sử dụng đất các hợp đồng nêu trên là thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm; tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên.

2/. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1;

  • - Buộc nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H chấm dứt hành vi ngăn cản, phải có trách nhiệm di dời tài sản là phần nhà bếp diện tích 20,41m², để giao trả cho ông Trần Thanh P1 toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên. (Vị trí, kích thước căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023 và ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);
  • - Ghi nhận ông Trần Thanh P1 tự nguyện trả lại giá trị tài sản một phần nhà bếp cho bà Lê Thị Hồng H với số tiền là 16.572.900 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm bảy mươi hai ngàn, chín trăm đồng);
  • - Công nhận quyền sở hữu và giao cho ông Trần Thanh P1 một phần căn nhà cấp 4 có diện tích 26,56m², do ông Lê Đình P, Lê Đình P2 xây dựng, phần tọa lạc trên quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên. (Vị trí, kích thước căn cứ theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023 và ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);
  • - Ghi nhận ông Trần Thanh P1 phải có trách nhiệm trả cho ông Lê Đình P, Lê Đình P2 số tiền trị giá căn nhà là 51.760.100 đồng (Năm mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn, một trăm đồng).
  • - Đối với các nghĩa vụ trả tiền nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Kiến nghị Chi cục Thuế quận N, thành phố Cần Thơ truy thu thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ đối với hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của các đương sự Lê Đình P, Thân Văn H1, Đặng Thị Hoàng G và Trần Thanh P1.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 30/10/2023, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H - ông Nguyễn Văn C trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị xem xét việc nguyên đơn ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/4/2021 là để tách thửa đất 52, nhưng ông P lừa dối bà H khi được chỉnh lý qua tên trên giấy chứng nhận ông P không thực hiện như thỏa thuận đem chuyển nhượng cho người khác. Trên thực tế, bà H không tặng cho ông P đất nên các bên không lập biên bản bàn giao đất, bà H không cho con ông P1 xây dựng nhà ở. Đồng thời, trên phần đất tranh chấp có nhà vệ sinh do bà H xây nhưng chưa được toà xem xét.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 – ông Lê Minh T trình bày: Ông P1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà H. Đề nghị xem xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/4/2021, nội dung không ghi nhận có điều kiện về việc tách thửa như bà H trình bày, việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và ông P là hợp lệ nên ông P có quyền quyết định đối với tài sản được tặng cho. Khi bà H giao đất cho ông P thì trên đất đã có nhà của ông P. Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tuân thủ đúng quy định của pháp luật, được lập thành văn bản và công chứng chứng thực.

Đối với tài sản trên đất có một phần nhà bếp của bà H, ông Trần Thanh P1 đồng ý hổ trợ cho bà H số tiền 30.000.000 đồng nên đề nghị ghi nhận.

Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng C1 – ông Ngô Công M trình bày: Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2022 giữa ông Lê Đình P với ông Thân Văn H1 và Hợpchuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/5/2022 giữa ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G với ông Trần Thanh P1, được Văn phòng C1 công chứng đúng thủ tục theo quy định nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hồng H. Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 đồng ý hỗ trợ thêm cho bà H một phần nhà bếp trên đất, số tiền là 30.000.000 đồng. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H và ghi nhận việc hỗ trợ của ông P1 đối với bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy, trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và qua diễn biến tại phiên tòa, đại diện kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ghi nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 hỗ trợ cho bà Lê Thị Hồng H một phần công trình nhà bếp số tiền 30.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H thực hiện thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử giải quyết, xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H với bị đơn ông Lê Đình P, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G và ông Trần Thanh P1. Cấp sơ thẩm, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H, nhận thấy:

[3.1] Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: Bà Lê Thị Hồng H có quyền sử dụng đất diện tích 378,1m², loại đất CLN, thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CS19407, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 14/4/2021 cho bà Lê Thị Hồng H đứng tên.

Căn cứ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/4/2021, xác định bà Lê Thị Hồng H đã tặng cho toàn bộ thửa đất số 52, diện tích 378,1m² cho ông Lê Đình P (em ruột bà H), hợp đồng được công chứng ngày 15/4/2021. Đến ngày 05/5/2021, ông P được chỉnh lý sang tên.

Theo khoảnĐiều 459 Bộ luật Dân sự quy định: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Nhận thấy, tại thời điểm ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà H có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 52, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H và ông P được xác lập thành văn bản và công chứng theo quy định của pháp luật, ông P đã tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và được chỉnh lý sang tên nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Lê Thị Hồng H và ông Lê Đình P có hiệu lực pháp luật.

Bà H cho rằng, do có nhu cầu muốn tách thửa chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất nên nhờ ông P làm thủ tục tách thửa. Nhưng vì không hiểu biết pháp luật, bà bị ông P lừa dối nên đã làm hợp đồng tặng cho ông P phần đất trên. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày thì bà H không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc ông P yêu cầu bà lập hợp đồng tặng cho để ông P tách thửa cho bà H. Nhận thấy, sau khi được tặng cho đất thì ông Lê Đình P cùng con đã xây dựng căn nhà bán kiên cố trên phần đất được tặng cho. Bà H cũng có nhà, đất liền kề với thửa đất tranh chấp hiện nay nhưng không có ý kiến phản đối.

Ngoài ra, trước khi tặng cho ông P phần đất trên thì bà H đã từng thực hiện thủ tục tách thửa khi các chị em của bà H thỏa thuận phân chia phần đất hương quả của cha mẹ để lại từ thửa đất số 52, diện tích 502,5m², để bà được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích 378,1m². Do vậy, việc bà H cho rằng bà ký hợp đồng tặng cho đất ông P có điều kiện là sau đó để ông P tách thửa đất cho bà nhưng không cung cấp chứng cứ gì để chứng minh về việc có sự thỏa thuận về điều kiện này. Vì vậy, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà H tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H với ông P là có cơ sở.

[3.2] Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Sau khi được chỉnh lý sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông P đã lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 52 cho ông Thân Văn H1, hợp đồng được công chứng ngày 20/4/2022 và ông H1 đã được chỉnh lý sang tên 28/4/2022. Sau đó, ông H1 và vợ là bà Đặng Thị Hoàng G đã lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 52 cho ông Trần Thanh P1, hợp đồng được công chứng ngày 04/5/2022, ông P1 đã được chỉnh lý sang tên ngày 11/5/2022 và cấp đổi lại giấy chứng nhận ngày 15/3/2023.

Xét thấy, việc chuyển nhượng đất từ ông P sang ông H1, từ ông H1 sang ông P1 đều có lập hợp đồng và có công chứng theo quy định của pháp luật, người nhận chuyển nhượng đã được chỉnh lý sang nên phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 502 và Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Nên bà H yêu cầu tuyên vô hiệu đối với hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên và yêu cầu Ủy ban nhân dân quận N thu hồi, chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P, ông H1, ông P1 để cấp lại cho bà H là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét ông P1 là người nhận chuyển nhượng đất hợp pháp, nên ông yêu cầu bà H phải chấm dứt hành vi ngăn cản, tháo dỡ một phần nhà bếp trên đất tranh chấp để giao trả toàn bộ diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm nêu trên cho ông P1 và ông P1 tự nguyện trả lại giá trị một phần nhà bếp cho bà H theo kết quả định giá là có cơ sở.

Căn cứ Công văn số 1125/PTCKH, ngày 11/7/2023 của Phòng Tài chính Kế hoạch quận N, thành phố Cần Thơ, kết quả định giá như sau:

  • + Về quyền sử dụng đất thửa 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 387,1m², loại đất CLN, có giá trị là: 275.000 đồng/m2 x 387,1m² = 106.452.500 đồng.
  • + Về tài sản trên đất tranh chấp:

Căn nhà do ông Lê Đình P, Lê Đình P2 xây dựng sử dụng có diện tích 26,56m² x 2.030.000 đồng/m² x 96% = 51.760.100 đồng.

Một phần căn nhà do bà Lê Thị Hồng H đang sử dụng là nhà bếp diện tích 20,41m² x 2.030.000 đồng x 40% = 16.572.900 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của ông Trần Thanh P1 có ý kiến: ông Thanh P1 tự nguyện hỗ trợ cho bà H giá trị một phần nhà bếp tổng số tiền là 30.000.000 đồng, sự tự nguyện này là có lợi cho bà H nên ghi nhận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H cho rằng trên phần đất tranh chấp có một phần nhà bếp và nhà vệ sinh của bà H. Tuy nhiên, tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023 chỉ ghi nhận “phần nhà bếp”, không thể hiện có một phần nhà vệ sinh; biên bản này bà H có tham gia và không có ý kiến gì khác. Do vậy, ý kiến này của người đại diện ủy quyền của bà H là có cơ sở xem xét đối với phần nhà bếp.

Đối với căn nhà do ông Lê Đình P, Lê Đình P2 xây dựng trên trên đất có giá trị là 51.760.100 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục tống đạt và niêm yết theo quy định, nhưng ông P, ông P2 vắng mặt nên không xác định được một phần căn nhà là của ông P hay ông P2, nên giao một phần căn nhà trên phần đất tranh chấp cho ông Trần Thanh P1 và ghi nhận việc ông Trần Thanh P1 trả lại giá trị căn nhà này cho ông Lê Đình P và ông Lê Đình P2 là phù hợp.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 buộc nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H phải chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng của ông P1 đối với thửa đất 52, buộc bà H tháo dỡ công trình xây dựng trên đất là một phần nhà bếp để giao trả toàn bộ quyền sử dụng đất 378,1m² loại đất trồng cây lâu năm nêu trên cho ông Trần Thanh P1 là có căn cứ chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Thanh P1 đồng ý trả lại giá trị công trình một phần nhà bếp cho bà H là 30.000.000 đồng.

[5] Đối với giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng giữa ông Lê Đình P với ông Thân Văn H1 là 350.000.000 đồng, nhưng thực tế các bên chuyển nhượng theo thừa nhận của ông H1 là 3.600.000.000 đồng; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng giữa ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G với ông Trần Thanh P1 ghi là 370.000.000 đồng, nhưng thực tế các bên chuyển nhượng theo thừa nhận của ông H1, ông P1 là 3.780.000.000 đồng. Xét thấy, theo quy định tại Điều 137; Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019, việc thỏa thuận ghi giá chuyển nhượng trong hợp đồng thấp hơn giá trị thực tế chuyển nhượng tại thời điểm các bên ký kết hợp đồng là hành vi trốn thuế. Do đó, cần kiến nghị cơ quan thuế có thẩm quyền truy thu thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ đối với các ông, bà Lê Đình P, Thân Văn H1, Đặng Thị Hoàng G và Trần Thanh P1 theo quy định.

Từ các cơ sở trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H, sửa một phần bản án sơ thẩm về việc ghi nhận ông Trần Thanh P1 đồng ý trả lại giá trị công trình một phần nhà bếp cho bà H là 30.000.000 đồng. Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí. Nhưng do nguyên đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nên không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất sau đây gồm:

  • + Hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 4 năm 2021 giữa bà Lê Thị Hồng H với ông Lê Đình P, được Văn phòng C1, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 15/4/2021;
  • + Hợpđồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa ông Lê Đình P với ông Thân Văn H1, được Văn phòng C1, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 20/4/2022;
  • + Hợpđồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04 tháng 5 năm 2022 giữa ông Thân Văn H1, bà Đặng Thị Hoàng G với ông Trần Thanh P1, được Văn phòng C1, quyển số 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 04/5/2022;

Quyền sử dụng đất các hợp đồng nêu trên là thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm; tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1;

  • Buộc nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất của ông Trần Thanh P1, phải có trách nhiệm di dời tài sản là phần nhà bếp diện tích 20,41m², để giao trả cho ông Trần Thanh P1 toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên. (Vị trí, kích thước căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023 và ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);
  • Ghi nhận ông Trần Thanh P1 tự nguyện trả lại giá trị tài sản một phần nhà bếp cho bà Lê Thị Hồng H với số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);
  • - Công nhận quyền sở hữu và giao cho ông Trần Thanh P1 một phần căn nhà cấp 4 có diện tích 26,56m², do ông Lê Đình P, Lê Đình P2 xây dựng, phần tọa lạc trên quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 74, diện tích 378,1m², loại đất

trồng cây lâu năm; Tọa lạc khu vực 1, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21700, được Sở T cấp ngày 15/3/2023, do ông Trần Thanh P1 đứng tên. (Vị trí, kích thước căn cứ theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023 và ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);

  • - Ghi nhận ông Trần Thanh P1 phải có trách nhiệm trả cho ông Lê Đình P, Lê Đình P2 số tiền trị giá căn nhà là 51.760.100 đồng (Năm mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn, một trăm đồng).
  • - Đối với các nghĩa vụ trả tiền nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Kiến nghị Chi cục Thuế quận N, thành phố Cần Thơ truy thu thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ đối với hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của các đương sự Lê Đình P, Thân Văn H1, Đặng Thị Hoàng G và Trần Thanh P1.

3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xé thẩm định, định giá tài sản:

  • - Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H phải nộp 3.140.000 đồng (Ba triệu, một trăm bốn mươi ngàn đồng) công nhận đã nộp xong.
  • - Công nhận ông Trần Thanh P1 tự nguyện chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng), công nhận đã nộp xong.

4. Về án phí dân sự.

4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Miễn án phí cho nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H do là người cao tuổi;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh P1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001213, ngày 13/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

4.2 Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H thuộc trường hợp được miễn nên không phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh KIều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 201/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huệ - Phi - Tranh chấp HĐ CN QSD đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger