TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 201/2024/HS-PT
Ngày: 15-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng
Ông Nguyễn Ngọc Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1969 và bà Trần Thị T, sinh năm 1958; có vợ là Dương Thị Mỹ L, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 22/6/2023, bị cáo Nguyễn Văn Q đang ở nhà tại ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì Phạm Thị Lệ G gọi điện thoại cho Q (Q là cháu bà con bên chồng của G) nói mới bị Nguyễn Văn L1 nhà ở ấp A, xã A đánh nên kêu Q vào nhà L1 hỏi chuyện tại sao L1 đánh G. Khoảng 10 phút sau, Q lấy cây dao yếm (loại dao làm cá) bên hong nhà dắt vào ba ga giữa xe mô tô rồi điều khiển chạy vào nhà L1. Trên đường đi gần đến cầu kênh 2 tháng 9, Q gặp G đang đậu xe cặp mé đường (trên xe G chở đứa con 02 tuổi) đang nói chuyện với Bùi Thành T1 và Nguyễn Văn K (T1 và K đi chung xe mô tô). Tại đây, G kêu Q đi theo G vô nhà L1, Q không nghe G kêu T1 và K cùng đi, G không nhìn thấy dao yếm của Q dắt ở ba giữa xe mô tô vì trời tối.
Đến 20 giờ cùng ngày, Q, G, T1 và K đến nhà L1. Q chạy xe mô tô ngang nhà L1 không thấy L1 nên quay đầu xe lại chạy chậm, L1 trong nhà chạy ra hỏi thì Q trả lời vụ L1 đánh G. Nghe vậy, L1 đi xông lại được những người cùng xóm can ra, L1 đi về nhà lấy 02 cục đá bự cầm trên 02 tay chạy lại chổ Q dùng tay phải có cầm cục đá đánh vào vùng tráng bên trái Q 01 cái, Q ngã khom người xuống cặp xe mô tô nên lấy cây dao yếm ở ba ga giữa xe chém vào người Lập 03 cái (tư thế chém ở trên chém xuống) trúng vào tay trái 02 cái và bả vai bên phải 01 cái. Lập nhào vô ôm Q giật xuống đường thì được K, T1 và những người ở xóm vào can ngăn, T1 giật lấy cây dao của Q. Riêng G đứng bên ngoài la chết Q rồi, và đi vô can ngăn thì Nguyễn Thị Kim P1 (em ruột L1) cầm cây rượt đánh G nhưng G bỏ chạy.
Lập bị thương tích ở tay trái và vai phải được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị, còn Q lấy lại cây dao do T1 cầm rồi lên xe chạy về nhà, trên đường đi khoảng 300 mét, Q ném cây dao yếm xuống kênh T rồi điều khiển xe đến trạm y tế xã A điều trị vết thương.
Cây dao yếm Q dùng chém Lập có đặt điểm cán bằng cây, lưỡi bằng sắt, mũi nhọn, phần giữa lưỡi dao rộng hơn phần mũi và phần cán, kích thước dài khoảng 30 cm x rộng khoảng 6cm, nặng khoảng 0,3 kg đến 0,4 kg. Gây án xong Q ném xuống kênh, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 312/KLTTCT-TTPYĐT ngày 22/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L1 tại thời điểm giám định là 16%.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 cục đá màu xám – xanh, kích thước 17cm x 12cm x 3,5cm; 01 cục đá màu trắng – đen, kích thước 10cm x 9cm x 4cm; 01 cái áo thun tay ngắn, màu xanh trước ngực có hàng chữ WASHINGTON màu vàng, trên áo có nhiều vết màu nâu đỏ; 01 cái quần sọt Jear màu xanh, mặt trước quần có viền màu đỏ, trên viền có chữ FAPASDEMIN, phía sau quần có lo go bằng da màu nâu, trên lo go có chữ ORIGINDEMIN, trên quần có nhiều vết màu đỏ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng các điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp chứng cứ mới là đã bồi thường thêm 30.000.000 đồng cho bị hại; bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi cha, ông nội lớn tuổi có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn Q không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Ngày 22/6/2023, do nghe Phạm Thị Lệ G nói mới bị Nguyễn Văn L1 đánh nên kêu Q vào nhà L1 hỏi chuyện tại sao L1 đánh G. Đến 20 giờ cùng ngày, Q lấy cây dao yếm (loại dao làm cá) bên hong nhà dắt vào ba ga giữa xe mô tô rồi điều khiển chạy vào nhà L1. Lập lấy 02 cục đá bự cầm trên 02 tay chạy lại chổ Q dùng tay phải có cầm cục đá đánh vào vùng tráng bên trái Q 01 cái, Q ngã khom người xuống cặp xe mô tô nên lấy cây dao yếm ở ba ga giữa xe chém vào người Lập 03 cái trúng vào tay trái 02 cái và bả vai bên phải 01 cái. Lập bị thương tích ở tay trái và vai phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 16%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo dùng cây dao yếm gây thương tích cho bị hại. Bị cáo nhận thức rõ cây dao yếm cán bằng cây, lưỡi bằng sắt, mũi nhọn, ở phần giữa lưỡi dao rộng hơn phần mũi và phần cán, kích thước dài khoảng 30cm x rộng khoảng 6cm, nặng khoảng 0,3 kg đến 0,4 kg là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng con dao yếm này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 16%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới như xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình đang nuôi cha và ông nội lớn tuổi đang bị bệnh tai biến nặng không đi lại được. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo đã hỗ trợ thêm cho bị hại 30.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên toà sơ thảm, phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại được bị hại xin không yêu cầu xử lý hình sự; gia đình bị cáo có công với Cách mạng; về phía bị hại cũng có 01 phần lỗi. Với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo mới cung cấp, xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn Q là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Q. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
5
Bản án số 201/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 201/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
