Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Văn Sơn;

2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/HSST, ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu C, sinh năm: 1989, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ D, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Á G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1967 (chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1968; anh chị em ruột có 02 người kể cả bị cáo; bị cáo có vợ Trần Thanh T, sinh năm: 1989, có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm: 1965 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số B L, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Văn A quen biết với Nguyễn Hữu C thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội. Qua quen biết nên Nguyễn Hữu C đã cho ông Nguyễn Văn A vay tiền nhiều lần với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào tháng 12/2021, Nguyễn Hữu C cho ông Nguyễn Văn A vay số tiền 50.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/ tháng, tương đương 5.000.000đ. Tháng 01/2022, ông A đóng cho C 5.000.000đ tiền lãi; tháng 02/2022 ông A đóng cho C 5.000.000đ tiền lãi. Tổng số tiền lãi ông A đóng cho C là 10.000.000đ. Vậy số tiền lãi trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự mà C được nhận là 20%/360 ngày x 50.000.000đ x 60 ngày = 1.666.666,67đ. Số tiền Cảnh thu lợi bất chính từ việc cho vay số tiền 50.000.000₫ là 10.000.000₫ - 1.666.666,67đ = 8.333.333,33₫.

- Lần thứ 2: Vào tháng 03/2022, Nguyễn Hữu C tiếp tục cho ông Nguyễn Văn A vay thêm số tiền 100.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/tháng, cộng với số tiền gốc ông A vay từ tháng 12/2021 là 50.000.000đ, tổng số tiền Cảnh cho ông A vay là 150.000.000đ, với lãi suất 10%/tháng, tương đương 15.000.000đ. Ông A đóng lãi cho C số tiền 5.000.000₫ là tiền lãi 01 tháng của khoản nợ 50.000.000 đồng. Vậy, số tiền lãi trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 468 cu3a Bộ luật dân sự mà C được nhận là 20%/360 ngày x 50.000.000 đồng x 30 ngày = 833.333,33đ. Số tiền Cảnh thu lợi bắt chính từ việc cho vay số tiền 50.000.000₫ là 5.000.000₫ - 833.333,33đ = 4.166.666,67₫.

- Lần thứ 3: Vào khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Hữu C tiếp tục cho ông Nguyễn Văn A vay thêm số tiền 100.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/tháng, cộng với số tiền gốc ông A vay trước đó là 150.000.000đ, tổng số tiền Cảnh cho ông A vay là 250.000.000₫ với lãi suất 10%/ tháng, tương đương 25.000.000đ. Tháng 5/2022, ông A đóng lãi cho C 15.000.000đ là tiền lãi tháng 4/2022 của khoản vay 150.000.000đ và đóng tiền lãi của tháng 05, 06, 07/2022 của khoản vay 250.000.000₫ là 75.000.000đ. Vậy, số tiền lãi trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự mà C được nhận là [(20%/360 ngày x 150.000.000₫ x 30 ngày) + (20%/360 ngày x 250.000.000₫ x 90 ngày)] = 2.500.000đ + 12.500.000₫ = 15.000.000đ. Số tiền Cảnh thu lợi bắt chính từ việc cho vay số tiền này là [(15.000.000₫ - 2.500.000₫)] + [(75.000.000₫ - 12.500.000₫)] = 75.000.000đ.

- Lần thứ 4: Vào khoảng tháng 9/2022, Nguyễn Hữu C tiếp tục cho ông Nguyễn Văn A vay thêm số tiền 100.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/tháng, cộng với số tiền gốc ông A vay trước đó là 250.000.000đ, tổng số tiền Cảnh cho ông A vay là 350.000.000₫ với lãi suất 10%/tháng, tương đương 35.000.000đ. Ông A đóng tiền lãi của tháng 08/2022 của khoản vay 250.000.000₫ là 25.000.000đ. Lúc này, do các khoản vay trước có lệch ngày với nhau (không nhớ rõ cụ thể là ngày nào) nên C và ông A thỏa thuận lấy cùng ngày để dễ tính tiền và bắt đầu tính lãi vào tháng sau là tháng 10/2022. Tháng 10/2022, ông A đóng cho C tiền lãi là 35.000.000đ của khoản vay 350.000.000đ. Vậy, số tiền lãi trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự mà C được nhận là (20%/360 ngày x 250.000.000₫ x 30 ngày) + (20%/360 ngày x 350.000.000₫ x 30 ngày) = 4.166.666,67đ + 5.833.333,33đ = 10.000.000đ. Số tiền Cảnh thu lợi bắt chính từ việc cho vay số tiền này là (25.000.000đ - 4.166.666,67đ) + (35.000.000₫ - 5.833.333,33đ) = 50.000.000₫.

- Lần thứ 5: Vào khoảng tháng 10/2022, Nguyễn Hữu C tiếp tục cho ông Nguyễn Văn A vay thêm số tiền 200.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/tháng, cộng với số tiền gốc ông A vay trước đó là 350.000.000đ, tổng số tiền Cảnh cho ông A vay là 550.000.000đvới lãi suất 10%/tháng, tương đương 55.000.000đ. Lúc này, ông A chưa đóng tiền lãi gì.

- Lần thứ 6: Vào khoảng tháng 12/2022, Nguyễn Hữu C tiếp tục cho ông Nguyễn Văn A vay thêm số tiền 200.000.000đ, thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 10%/tháng, cộng với số tiền gốc ông A vay trước đó là 550.000.000đ, tổng số tiền Cảnh cho ông A vay là 750.000.000₫ với lãi suất 10%/tháng, tương đương 75.000.000đ. Do ông A đang nợ Cảnh tiền lãi của tháng 10/2022, 11/2022 của số nợ gốc 550.000.000₫ là 110.000.000đ nên C chỉ đưa cho ông A số tiền mặt là 90.000.000đ. Còn 110.000.000đ thì C trừ vào tiền lãi ông A đang nợ C. Sau đó, ông A không có khả năng đóng tiền lãi nữa nên ông A lẫn tránh C. Khoảng 10 tháng sau, ông A về và có thỏa thuận với C tổng số nợ gốc là 750.000.000đ với lãi suất 10%/tháng, tổng 10 tháng với số tiền lãi là 750.000.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi là 1.500.000.000đ, nhưng C và ông A thỏa thuận và bớt tiền lãi chỉ còn 600.000.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi sau khi thỏa thuận là 1.350.000.000đ. Mỗi tháng, ông A hứa góp cho C 10.000.000đ trừ vào số nợ gốc, khi nào ông A bán được đất sẽ trả tất cả các khoản nợ còn lại. Ngày 04/01/2024, ông A lần đầu tiên góp số tiền 35.000.000đ để trả vào nợ gốc cho C thì được Cơ quan Công an mời về làm việc. Vậy, số tiền lãi trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự mà C được nhận là 20%/360 ngày x 550.000.000đ x 60 ngày = 18.333.333,33đ. Số tiền Cảnh thu lợi bất chính từ việc cho vay số tiền này là 110.000.000₫ - 18.333.333,33đ = 91.666.666,67đ.

Nguyễn Hữu C cho ông Nguyễn Văn A vay tiền lấy lãi suất 10%/tháng, tương đương 120%/năm (12 tháng), gấp 06 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Tổng số tiền thu lợi hợp pháp của Nguyễn Hữu C từ việc cho ông Nguyễn Văn A vay tiền để lấy lãi theo quy định của pháp luật là 45.833.333,33đ. Tổng số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Hữu C từ việc cho ông Nguyễn Văn A vay tiền để lấy lãi cao hơn quy định của pháp luật là: 229.166.666,67₫.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu vàng (thu của C); 02 tờ giấy mượn nợ có chữ ký xác nhận của Nguyễn Hữu C ngày 04/01/2024; số tiền 35.000.000đ (thu của C) và 01 xe ôtô hiệu Kia Morning màu đỏ biển số 61A-949.96 (đã trả lại cho chủ sở hữu là Huỳnh Minh T1).

Về phần dân sự: Ông Nguyễn Văn A đã được Nguyễn Hữu C bồi thường số tiền 230.000.000đ, ông A không yêu cầu bồi thường gì thêm. Cảnh yêu cầu ông A trả 470.000.000đ số tiền gốc còn nợ chưa trả.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VK-CC ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo và ông Nguyễn Văn A có quen biết nhau do cùng sinh sống tại xã T, huyện C. Tháng 12/2021, ông A có đến nhà bị cáo hỏi vay số tiền 50.000.000đđể lo việc gia đình, bị cáo nói vay với lãi suất 10%/ tháng thì ông A đồng ý, ông A đóng lãi cho bị cáo tháng 01/2022 là 5.000.000đ và đóng lãi tháng 2/2022 số tiền 5.000.000đ. Đến tháng 3/2022, ông A tiếp tục đến gặp bị cáo vay thêm số tiền 100.000.000đ, thỏa thuận lãi suất vẫn là 10%/tháng, đến tháng 4/2022 ông A đóng lãi cho bị cáo số tiền 15.000.000đ. Sau đó tháng 5/2022 ông A vay thêm 100.000.000đ, tháng 9/2022, ông A vay tiếp số tiền 100.000.000đ, tháng 10/2022 ông A tiếp tục vay thêm 200.000.000đ. Tổng cộng số tiền ông A vay của bị cáo đến tháng 10/2022 là 550.000.000đvới lãi suất 10%/tháng. Ông A không tiếp tục đóng lãi cho bị cáo, đến tháng 12/2022 thì ông A đến nhà bị cáo hỏi vay thêm 200.000.000đ, do ông A không đóng lãi tháng 10/2022 và tháng 11/2022 với số tiền 110.000.000đ nên bị cáo không đồng ý cho vay, ông A nói bị cáo cho ông A vay 200.000.000₫ nhưng đưa cho ông A số tiền 90.000.000đ, còn 110.000.000đ được cấn trừ vào tiền lãi của tháng 10/2022 và tháng 11/2022. Từ tháng 12/2022 khi ông A không đóng lãi. Khoảng tháng 10/2023 ông A quay về đến gặp bị cáo để thỏa thuận trả số tiền gốc đã vay và tiền lãi phát sinh từ tháng 12/2023 đến tháng 10/2023 là 10 tháng. Bị cáo và ông A thỏa thuận tiền lãi 10 tháng là 600.000.000đ, tiền gốc là 750.000.000đ. Tổng cộng ông A phải trả cho bị cáo số tiền 1.350.000.000đ, bị cáo và ông A thỏa thuận để ông A trả góp tiền gốc mỗi tháng là 10.000.000đ, khi nào ông A bán đã sẽ trả hết số tiền còn lại. Ngày 04/01/2024, ông A điện thoại cho bị cáo đến nhà ông A để nhận tiền góp là 35.000.000đ, khi bị cáo đến nhà ông A tại tổ F, ấp G, xã T, huyện C và nhận số tiền 35.000.000đ từ ông A thì bị Công an bắt giữ, thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus và 01 xe ô tô biển số 61A-949.96. Quá trình điều tra Công an đã trả lại xe ô tô cho chủ sở hữu, bị cáo đã hoàn trả lại cho ông A số tiền lãi chênh lệch là 230.000.000đ. Số tiền nợ gốc ông A còn nợ bị cáo là 470.000.000đ bị cáo đồng ý nộp cho Nhà nước.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn A có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai ngày 03/5/2024 ông A thừa nhận còn nợ bị cáo C số tiền gốc là 470.000.000đ, chậm nhất đến tháng 12/2024 ông sẽ trả cho bị cáo C toàn bộ số tiền 470.000.000đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Khoản 2 Điều 201, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C số tiền từ 200.000.000đ đến 250.000.000đ nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu vàng; trả cho ông Nguyễn Văn A tiền Ngân hàng N là 35.000.000₫ nhưng tiếp tục giữ lại để cấn trừ vào số tiền ông A phải nộp vào ngân sách Nhà nước; buộc ông Nguyễn Văn A phải giao nộp số tiền 470.000.000đ mà bị cáo C cho vay để nộp ngân sách Nhà nước và truy thu của bị cáo C số tiền lãi hợp pháp theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tổng cộng là 45.833.333đ nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn A đã được bị cáo C bồi thường số tiền lãi chênh lệch là 230.000.000đ, không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo Nguyễn Hữu C không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Hữa C2 nói lời sau cùng: Khi vay tiền, ông A cũng đồng ý với mức lãi suất mà bị cáo cho vay nhưng do thiếu hiểu biết về pháp luật, bị cáo không biết việc cho vay với mức lãi suất như vậy là cho vay nặng lãi, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo còn lo cho mẹ già và vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2022, bị cáo Nguyễn Hữu C đã có hành vi cho ông Nguyễn Văn A vay tiền nhiều lần với tổng số tiền cho vay là 640.000.000đ với lãi suất là 10%/tháng, tương đương 120%/năm, gấp 06 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bị cáo thu lợi bất chính từ việc cho ông A vay tổng cộng 229.166.667đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân, xâm phạm đến nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác; gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó Hội đồng xét xử xét cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện đối mới để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; là lao động chính của gia đình đang trực tiếp nuôi 02 con trong độ tuổi đi học; bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian được tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân và nếu không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù và áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền cũng đủ phát huy tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử đã áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hình phạt chính đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đã qua sử dụng, số Imei: 352977097746708, số thuê bao 0976.059.261 là tài sản của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Tiền Ngân hàng N 35.000.000đ là tài sản của ông Nguyễn Văn A, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giữ lại để cấn trừ vào số tiền 470.000.000đ truy thu của ông A để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị cáo C yêu cầu ông Nguyễn Văn A trả số tiền nợ gốc là 470.000.000đ và đồng ý nộp số tiền này vào ngân sách Nhà nước, Hội đồng xét xử xét số tiền 470.000.000đ là tài sản của bị cáo C cho ông A vay, tài sản này là đối tượng phạm tội nên cần truy thu đối với ông A để nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Xét cần truy thu tiền gốc bị cáo C cho ông A vay là 170.000.000đ và tiền lãi hợp pháp theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 45.833.333đ.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

  1. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 201, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

  3. Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
  4. - Truy thu bị cáo Nguyễn Hữu C tiền gốc cho ông A vay là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

    - Truy thu ông Nguyễn Văn A số tiền gốc mà bị cáo Nguyễn Hữu C cho ông A vay là 470.000.000đ (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước, cấn trừ vào số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng) theo Phiếu thu số 01 ngày 28/02/2024 ngày 17/01/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, ông A còn phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 435.000.000₫ (Bốn trăm ba mươi lăm triệu đồng).

    - Truy thu bị cáo Nguyễn Hữu C số tiền lãi hợp pháp theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 45.833.333đ (Bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

    - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng đã qua sử dụng, số Imei: 352977097746708, có số thuê bao 0976059261.

    (Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 221/LNK-ĐCSHS ngày 28/02/2024; Lệnh nhập kho vật chứng số 222/LNK-ĐCSHS ngày 28/02/2024, Phiếu thu số 01 ngày 28/02/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 48/PNK-ĐCSHS ngày 29/02/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C).

  5. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  6. Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng).

  7. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay nặng lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger