|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 201/2024/DS-ST Ngày 12 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Công Trọn.
Ông Nguyễn Việt Thắng.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 370/2024/TLST-DS ngày 06/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-DS ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Kiều T, sinh năm 1976.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị C, sinh năm 1958.
Cùng địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2024 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện: Nguyên đơn có cho bị đơn vay 02 lần tiền tổng 140.000.000 đồng, việc vay tiền có làm “Biên nhận ngày 17/01/2024 âm lịch” - biên nhận do bị đơn trực tiếp viết và ký tên, lãi suất tự thoả thuận 01 ngày 3 000 đồng/1.000.000 đồng. Quá trình vay cho đến nay không có trả vốn và không có trả lãi khoản tiền nào.
Nay nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị trả số tiền 140.000.000 đồng.
- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Bị đơn thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhiều lần, lãi suất tự thoả thuận 01 ngày 7000 đồng/1.000.000 đồng. Quá trình vay bị đơn không trả lãi đầy đủ, nên nguyên đơn tính lãi nhập vốn lên tổng số tiền 140.000.000 đồng và bị đơn có viết “Biên nhận ngày 17/01/2024 âm lịch – thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 140.000.000 đồng”, bị đơn xác định trong tổng số tiền 140.000.000 đồng là có lãi và vốn (nhưng bị đơn không chứng minh được số tiền lãi bao nhiêu và số tiền vốn là bao nhiêu), số tiền lãi
bị đơn đã đóng cho nguyên đơn thực tế là rất nhiều so với quy định của pháp luật (nhưng bị đơn không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh).
Nay bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 70.000.000 đồng, nhưng xin trả dần từ từ hàng tháng.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn xác định bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ vay, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán tiền nợ vay và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 463 Bộ luật dân sự (BLDS).
[2] Về pháp luật áp dụng: Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết để giải quyết là phù hợp.
[3] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn:
[3.1] Phía nguyên đơn không thừa nhận lời trình bày của bị đơn, mà cho rằng số tiền 140.000.000 đồng bị đơn ký nhận là nợ gốc vay; bị đơn thừa nhận quá trình vay tiền của nguyên đơn thì có viết “Biên nhận ngày 17/01/2024 âm lịch – Bút lục số 01- nợ nguyên đơn số tiền 140.000.000 đồng”, nhưng cho rằng là tiền lãi nhập vốn và đồng thời xác định số tiền lãi đã đóng cho nguyên đơn là vượt nhiều lần so với lãi theo quy định. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc đã đóng lãi cho nguyên đơn trên nợ gốc vượt quá quy định và trong tổng số tiền 140.000.000 đồng có số tiền lãi vượt quá quy định; qua xem xét nội dung biên nhận thì xác định được có nội dung “Bị đơn đã nhận đủ số tiền 140.000.000 đồng”, nên có căn cứ xác định thực tế bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc 140.000.000 đồng chưa thanh toán theo lời trình bày của nguyên đơn là đúng.
[3.2] Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên, nên cần buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả và nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 140.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 BLDS.
Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đầy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nêu trên.
[4] Về án phí: Bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
2
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số: 326). Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186 BLTTDS; Điều 463, Điều 466, Điều 468 BLDS; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326.
- Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Kiều T.
- Buộc bị đơn bà Ngô Thị C có trách nhiệm và nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Huỳnh Kiều T tổng số tiền 140.000.000 đồng.
- Kể từ ngày nguyên đơn bà Huỳnh Kiều T có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn bà Ngô Thị C chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn bà Ngô Thị C còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
- Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch:
- Bị đơn bà Ngô Thị C thuộc trường hợp được miễn án phí.
- Nguyên đơn bà Huỳnh Kiều T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 3.500.000 đồng theo biên lai thu số: 0004921 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Huỳnh Hải |
3
Bản án số 201/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 201/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T
